Bài đăng nổi bật

Nghe 100 Truyện ngắn của Tràm Cà Mau

  Nghe 100 Truyen Ngan Cua Tram Ca Mau ( Tac gia không giữ bản quyền.) bấm mỗi dòng dưới đây để nghe một truyện: Tuoi Gia La Tuoi Sung Suong...

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2018

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I. MÃ NGHỊ TRUYỆN

 MÃ NGHỊ TRUYỆN
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.


david pham

09:03 (2 giờ trước)
tới An, An, An, Anh, anh, Bat, Buu, Cai, Cai, ​Kahn, Catherine, Che, Chi, Cua, Cung, Dan, Dan, Dao, Diana, Diem, Dung, Duoc, Duong, Dzung, Hiep, Hoa, Hoan, Hoa, Hung, Hung, Kenny, Khanh, Khoa, khuong, Kiet, Kimdung, Lam, Lich, Linh, Loc, Loc, loc, loc, Loi, Lu, Mai, Mai, Mai, Mon, Muot, nga, Nghi, Ngọc, ngoc, Ngoc, Nhan, Peter, tôi, phan, Phong, phuoc, phuoc, Phuong, Phuong, Phuong, Quan, Quang, Quang, Quy, Sa, Sang, sang, Song, Tai, Tao, Thanh, Thanh, Thanh, Thanh, Thap, The, Thi, Thi, Thoa, thu, Tien, Lephattrien1935@gmail.com, Triet, Trinh, Troi, Trong, Tuan, Tue, Tuyet, Uc, Van, Viethieu, Vinh, Vinh, VPHoang, Vy
Than goi cac than huu bai Ma Nghi Truyen da duoc danh dau va minh hoa.
Doi khi ta can ke kem va nho be hon ta va hoc hoi mot dieu gi noi ho.  Xin moi doc.
Van Su Lanh
Than
phamdinhlan (david)

TB: Thanh that chia buon cung Son- Anh Dao ve su ra di vinh vien cua than mau va cau nguyen cho huong hon cu ba som ve nuoc Chua.



From: David Pham <davidlanpham@me.com>
Sent: Sunday, August 12, 2018 9:52 PM
To: David Pham
Subject: Pham Dinh Lan - ma nghi truyen
 

Pham Dinh Lan - ma nghi truyen

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
MÃ NGHỊ TRUYỆN

           Một nhạc trưởng Kiến Nhọt mang một cặp mắt kiếng cận thị dày như đáy chai la- ve điều khiển ban nhạc Fourmi đồng ca bài Kiến Tha Lâu Đầy Ồ.  Bài ca nói lên sức mạnh của tinh thần hợp quần, đoàn kết gây sức mạnh của Mã Nghị tộc.  Tộc Mã Nghị nhỏ đến nỗi mắt thường không trông thấy hay thấy lờ mờ không rõ hình thù.  Vậy mà với tinh thần đoàn kết và kiên tâm trì chí các anh tự tạo cho mình nơi ăn, chốn ở đầy đủ tiện nghi.  Bản nhạc vừa dứt thì xảy ra một cuộc cãi vã ì ầm giữa một nhạc sĩ Kiến Lửa và nhạc trưởng Kiến Nhọt.  Nhạc sĩ Kiến Lửa muốn độc tấu bản Cá ăn Kiến thì Kiến Ăn Cá nhưng nhạc trưởng Kiến Nhọt từ chối vì sợ mất tình đoàn kết động vật. 
Chủ tịch Sư Tử yêu cầu phó chủ tịch Cọp cử Rái Cá và Tê Tê đến giải quyết hai bên mới ngừng cãi nhau.    Ban hợp xướng Bồ Câu Trắng ca bản Con Chim Hoà Bình Đang Đau Nặng của Lê Thương, một nhạc sĩ Việt Nam như biện pháp tái lập trật tự và hòa giải kiến hiệu nhất.
Đại diện Ban Tổ Chức mời đại diện Mã Nghị tộc hoàn vũ lên diễn đàn.  Đó là một nữ hoàng Kiến Vàng vườn bưởi Biên Hòa.  Mặc dù khổ sở qua những năm dài chinh chiến trông bà mạnh khoẻ và còn giữ nét uy nghi của một bà mẹ có hàng triệu đứa con.
****
Thưa quí vị, người Việt Nam hay nói:  Đông như Kiến.  Họ nói đúng.  Dòng họ chúng tôi rất đông đảo với từ 12,000 đến 22,000 chi tộc khác nhau.  Chúng tôi sống khắp nơi trên thế giới ngoại trừ Bắc Cực và Nam Băng Châu.
Chúng tôi là loại côn trùng nhỏ bé, đẻ trứng.  Người ta ước lượng trên thế giới có 10,000 trillion dòng họ chúng tôi (một trillion .<.một CẢI.>.: 1,000 tỷ.  Một tỷ: 1,000 triệu).  Về kích thước Mã Nghị tộc chúng tôi dài trung bình từ 4- 5 mm.  Các anh chị Kiến Titanomyrma giganteum được xem là Kiến to lớn nhất, dài lối 6 cm tức 60 mm.  Dòng Kiến này đã tuyệt chủng.   Dòng Kiến Phi Châu mang tên khoa học Dorylus wilverthi dài lối 5 cm (50 mm) hiện nay được xem là dòng Kiến khổng lồ trên thế giới.  Dù thuộc chi tộc Kiến nào mỗi anh chị Kiến có thân hình dài có lông gồm: cái đầu nhỏ với hai con mắt to màu thủy tinh như ve chai, hai dây an- ten trên đầu dùng để đánh hơi; miệng có hai càng bén nhọn dùng để làm võ khí tự vệ và chuyển vận thức ăn về ổ; bụng to, tròn và trong suốt.  Mỗi anh chị Kiến có ba cặp chân nhỏ, có móng nhọn.  Quần áo thường thấy của Mã Nghị tộc là quần áo màu vàng, đen, hung đỏ,  hung đỏ- đen, áo vàng quần xanh nhạt v.v.  Trọng lượng của các anh chị Mã Nghị tộc xê dịch từ 5 mg đến 15 mg. 
   
Dưới đây là tên gọi của loài người gán cho chúng tôi:
Quốc Gia
Tên Gọi
Gia Đình
Việt Nam
Kiến; Mã Nghị (Hán-Việt)
Formicidae
Anh
Ant
Pháp
Fourmi
Trung Hoa
Mayi
Mã Nghị tộc vừa đông đảo vừa hiếu chiến.  Mã Nghị tộc có một số đặc điểm như sau:
1.  Với tổng số dân 10,000 trillion Mã Nghị tộc trên hoàn vũ người ta ước lượng tổng trọng lượng của Mã Nghị tộc lớn hơn trọng lượng của 7.5 tỷ nhân loại.  Trọng lượng trung bình của một người là 55 ki-lô.  Trọng lượng của 7.5 tỷ người là: 7.5 x 55: 412.5 tỷ ki- lô.  Trọng lượng trung bình của Mã Nghị tộc là 10 mg tức 10/1,000: 1/100 ki- lô.  Tổng trọng lượng của Mã Nghị tộc trên thế giới là: 10,000,000,000,000,000 x 01: 100: 10 x 10 lũy thừa 13 ki- lô!
2.  Mã Nghị tộc không có tai nhưng chúng tôi không điếc.  Chúng tôi cảm nhận những diễn biến ngoài chúng tôi qua những chấn động khi chân chúng tôi chạm vào đất.
3.  Mã Nghị tộc có hai bao tử:  một bao tử để giữ thức ăn và một bao tử để nghiền thức ăn.
4.  Mã Nghị tộc không có phối.  Khi oxygen vào những lỗ nhỏ li ti trên thân chúng tôi Carbon dioxidescũng thoát ra từ những lỗ nhỏ li ti ấy.
5.  Mỗi thành viên dòng Mã Nghị có thể chở một vật nặng gấp 20- 50 lần trọng lượng của mình bằng hai càng.
6.  Mã Nghị tộc lội nước rất tốt.  Chúng tôi là những nhà khí tượng đoán biết trước mưa bão, ngập lụt để kéo nhau vào nhà loài người hay trèo lên cây.
7.   Mã Nghị tộc tôn thờ chủ nghĩa anh hùng.  Họ thề cắn nhau cho đến chết chớ không chịu thua bỏ chạy.    
8.   Do tính hiếu chiến Mã Nghị tộc thường đánh nhau với Kiến ở các ổ khác hay Kiến cùng ổ vì ổ quá đông và hay có hai Kiến Chúa.  Khi chiến tranh xảy ra giữa các tộc Kiến thì số chiến binh Kiến chết vô số vì tất cả đều chiến đấu trong tinh thần quyết thắng và quyết tử.
9.  Sự đối xử của Kiến chiến thắng đối với Kiến chiến bại rất tàn bạo.  Khi tấn công và đánh bại một ổ Kiến lạ, Kiến thắng trận tha trứng Kiến của ổ Kiến bại trận về ổ của họ.  Trứng nở ra ấu trùng, nhộng rồi Kiến.  Đó là những Kiến nô lệ phục dịch cho Kiến thắng trận.
Mã Nghị tộc theo chế độ mẫu hệ.  Mỗi ổ Kiến qui tụ hàng ngàn hay chục ngàn đơn vị.  Những ổ lớn có thể có đến hàng trăm ngàn Mã Nghị.  Nơi sinh sống của Mã Nghị tộc tùy theo các chi tộc.  Có chi tộc sống dưới đất.  Có chi tộc sống trong những gốc cây mục.  Có chi tộc quấn lá làm ổ như tộc Kiến Vàng chúng tôi chẳng hạn.  Có chi tộc sống dọc theo vệ đường.  Có chi tộc sống trong vách gỗ, trần nhà gỗ.  Xã hội Mã Nghị tộc là xã hội mẫu hệ có tổ chức, có chỉ huy và có giai cấp.    
KIẾN CHÚA là nữ hoàng trong vương quốc Mã Nghị tộc.  Bà là mẹ của thần dân trong Mã Nghị Quốc.  Trong suốt quá trình sống bà có thể có hơn một triệu đứa con.  Con của bà ít nam và nhiều nữ.  Là nữ hoàng, Kiến Chúa dược Kiến Thợ phục vụ và nuôi dưỡng để đảm bảo sức khỏe khi sinh đẻ.  Kiến Chúa to lớn và uy vệ hơn các chị Kiến Thợ lam lũ.  Kiến Chúa có cánh và có thân hình to lớn hơn cả.
KIẾN ĐỰC không lao động mà chỉ giao tình với KIẾN CHÚA để sinh ra các nữ Mã Nghị công nhân.  KIẾN ĐỰC có cánh.  Họ có các chuyến bay hôn vụ trên không trung bất kể nắng gió.  Sau khi giao tình KIẾN ĐỰC rời bỏ cõi đời để lại vô số bào thai.    
KIẾN THỢ đều là nữ Mã Nghị.  Các chị phải lo cho vương quốc của mình bằng cách nới rộng vương quốc, xây dựng nhiều kho chứa lương thực.  Hàng ngày các chị phải lặn lội đi kiếm thức ăn.  Thức ăn ấy có thể là các loại hột, miếng bánh mì, chén cơm thiu, Côn Trùng chết, thịt của loài thú chết, cục đường, Cá hay Chim chết sình v.v.  Thức ăn ưa thích của chúng tôi là chất ngọt của đường, mật hoa, mật trái cây ngọt.  Ở điểm này món ăn ưa thích của Kiến giống mấy anh chị Ruồi:  mật, đường, si-rô.  Gặp thức ăn nặng so với trọng lượng và sức mạnh của hai càng, chúng tôi phải hợp lực lại để tải hàng về vương quốc chúng tôi.  Thỉnh thoảng gặp bão tố hay gió lớn cướp đi sinh mạng của nhiều chị Kiến anh hùng lao động chết tập thể không một ai trong vương quốc tỏ lòng thương tiếc và tưởng niệm.  Khủng khiếp hơn là gặp con cái nhà họ Điểu ăn sống các chị Kiến Thợ.  Thỉnh thoảng gặp mấy thằng cha say rượu tiểu vãi dọc đường khiến nhiều chị Kiến Thợ té ngã và ướt đẫm cả người.  Nhiều nữ Mã Nghị ngất xỉu vì hơi độc của ammoniac!  Cuộc đời Kiến Thợ là như vậy đó.  Khi có một anh hay chị Kiến trong Mã Nghị Quốc chết vì nguyên nhân gì không được hội đồng y sĩ Mã Nghị xác định, các Kiến Thợ phải tha anh hay chị Kiến chết bị nghi là trúng độc hay bị nhiễm vi khuẩn độc ra khỏi vương quốc để tránh sự lây lan.
KIẾN QUÂN là Kiến Đực nhưng không làm công tác truyền giống mà có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho vương quốc Mã Nghị tộc.  Võ khí mà Mã Nghị tộc dùng là hai cái càng bén nhọn và mở rộng để cắn đối phương.  Võ khí độc hại là võ khí hóa học làm bằng ác- xít phọt- mít (formic acid) được dùng khi đi săn mồi, khi chiến đầu tự vệ hay bảo vệ Mã Nghị Quốc.
Dù sống dưới đất, trong vách nhà, tường nhà, vệ đường, trên cây. Mã Nghị tộc chúng tôi gây bịnh cho loài người nhất là bịnh về da vì những vết cắn nhức nhối.  Về phần chúng tôi gìn giữ vệ sinh môi trường sống là bổn phận của chúng tôi.  Những nhà thiên văn của chúng tôi đoán thời tiết không bao giờ sai nên Mã Nghị tộc chết vì nạn lụt ít khi xảy ra.    
Các anh chị Kiến Kim nhỏ bé màu vàng- trắng cắn rất đau làm cho loài người mất ngủ và chịu đau đớn vào những buổi trưa hè nóng bức.    
Mấy anh Kiến Hôi đen ngòm phá hoại cây trái của loài người ngay khi vừa kết quả.  Kiến Hôi than phiền Kiến Vàng chúng tôi ỷ có nhiều ác- xít phọt- mít nên đánh đuổi họ ra khỏi các vườn cây ăn trái của loài người.
Kiến Đất (Black garden ant) Lasius niger mặc quần áo đen.  Họ cắn các loại hột mới nảy mầm dưới đất.  Các anh chị ấy đục lỗ các loại bắp, đậu xanh, đậu phọng khiến nông dân mất hột giống và phải bỏ những loại hột bị Kiến đục kia.  Kiến Đất Lasius niger có tuổi thọ rất cao: 14 năm.
Kiến Lửa Solenopsis invicta cắn người đi chân không đạp vào hang ổ của Kiến Lửa dưới đất.  Chi tộc này đã đi vào từ điển ngôn ngữ của người Việt Nam với nhóm chữ Đụng ổ Kiến Lửa hay Đạp vào ổ Kiến Lửa rồi!
Kiến Nhọt Pachycondyla chinensis (Asian needle ant:  Kiến Á Châu có kim nhọn) và Kiến Đạn (Bullet ant) Paraponera clavata có kim nhọn chích rất đau vì có nọc độc.  Kiến Nhọt và Kiến Đạn đều to lớn.  Kiến Nhọt màu đen.  Kiến Đạn màu đen- hung đỏ.  Cả hai tộc Kiến này đều sống trong rừng.
Kiến Pharaoh Monomorium pharaonis màu vàng nhạt, đầu và bụng màu vàng sẫm.  Chi tộc này có tuổi thọ khá cao: 04- 12 năm.  Kiến Chúa Pharaoh sinh lối 400 trứng sau mỗi lần ái ân với Kiến Đực.   Từ trứng, ấu trùng đến khi có hình hài Kiến phải mất từ 38 đến 45 ngày.  Ổ Kiến Pharaoh không có nhiều Kiến:  khoảng 2,000- 3,000 Kiến.  
Kiến Đen Thợ Mộc (Black carpenter ant) Camponotus pennsylvanicus làm ổ trong vách gỗ, trần nhà.  Chi tộc Kiến này không chích nhưng cắn.  Chi tộc Kiến sống trong gỗ này có ác-xít phọt-mít (formic acid).  Cách cư trú của Kiến Đen Thợ Mộc làm hư vách và trần nhà của loài người.  Suy cho cùng mới thấy Mã Nghị tộc cũng chẳng vinh quang gì vì chỉ phá hại được bọn loài người nghèo khổ mà thôi.  Vì loài người giàu có nhà làm bằng gạch, bằng đá lại có thuốc trừ Kiến làm sao Mã Nghị tộc dám xâm nhập để phá hại.    
Kiến Điện (electric ant) gọi như thế vì cắn đau nhức như Kiến Lửa.  Tên khoa học của Kiến Điện là Tasmania auropunctata.  Kiến Điện mặc quần áo vàng như Kiến Lửa nên còn được gọi là Tiểu Hỏa Mã Nghị (Kiến Lửa em- Little fire ant).  Cộng đồng Kiến Điện có nhiều Kiến Chúa.  Có những Kiến Chúa sinh trứng vì có giao tình với Kiến Đực.  Cũng có Kiến Chúa sinh trứng dù không có giao tình với Kiến Đực.
Chi tộc chúng tôi được người Việt Nam gọi là Kiến Vàng vì quần áo chúng tôi mặc màu vàng cam.  Thực tế Mã Nghị tộc mặc quần áo vàng rất nhiều.  Ngay cả các anh chị Kiến Lửa cũng mặc quần áo vàng.  Kiến Vàng của chi tộc chúng tôi người Anh gọi là weaver ant (Kiến Dệt) vì chúng tôi chầm nhiều lá cây rộng lớn để làm ổ.  Chúng tôi to lớn như tộc Kiến Nhọt.  Sáu (06) chân của chúng tôi rất mỏng.  Hai càng của chúng tôi làm cho loài người xem chúng tôi là những kẻ gây hấn bạo tợn.  Chúng tôi luôn luôn nhe càng trước mọi đối tượng trước mặt.  Thân hình chúng tôi như chở một số lượng ác-xít phọt- mít CH2 O2 (formic acid) đáng kể.  Đó là đặc tính vật lý của Kiến Vàng được biết dưới tên đăng ký khoa học Oecophylla smaragdina hay Oecophylla longinoda.        
Kiến Vàng Oecophylla smaragdina được tìm thấy nhiều ở Việt Nam, Cambodia, Lào, Ấn Độ, Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân và Bắc Úc.
Kiến Vàng Oecophylla longinoda sống tập trung ở Trung Phi, Tây Phi, Đông Phi.  Ở Thái Lan, Phi Luật Tân và Indonesia người ta bán trứng, ấu trùng và nhộng Kiến Vàng để ăn hay làm mồi câu cá.  Ở vài nơi ở nông thôn Việt Nam người ta cho thịt bò thái mỏng vào ổ Kiến Vàng để Kiến tưới formic acid trên thịt làm cho thịt tái để ăn và uống rượu.  Hương vị formic acid chua như chanh.
Formic acid là võ khí lợi hại của Kiến Vàng làm cho các tộc Kiến khác phải nễ vì.  Loài người ở Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, Phi Luật Tân làm dây cho Kiến Vàng làm ổ trong các vườn cây ăn trái để cây có nhiều trái và trái có vị đặc biệt (vườn chanh, bưởi, cam, quít, xoài, cà phê, ca cao v.v).  Trứng và ấu trùng Kiến Vàng có nhiều protein và khoáng chất.  Ở Ấn Độ và Trung Hoa người ta dùng Kiến Vàng để làm thuốc trị cảm, tê thấp, thuốc kích dục, thuốc trị ruột nhiễm trùng.
Một chi tộc Mã Nghị mặc quần áo vàng như Kiến Vàng chúng tôi bị loại người gọi là Kiến Vàng Điên (Yellow crazy ants) vì các anh ấy đi lang thang có khi như kẻ lạc lối vì bị điện vậy.  Các anh chị Kiến Vàng Điên có 06 chân rất dài nên được gọi là Kiến Chân Dài (long- legged ants), mặc quần áo màu vàng nhạt.  Đất sống của các anh chị ấy là vùng nhiệt đới ẩm ướt vùng Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Nam Mỹ nhiệt đới. 
Kiến Vàng Điên là kẻ thù của loài người mặc dù các anh chị ấy có dồi dào formic acid.  Tên khoa học của Kiến Vàng Điên là Anoplolepis gracilipes hay Formica longipes.  Có một chi tộc bà con với chúng tôi cũng được gọi là Kiến Điên hay dài dòng hơn là Kiến Điên Sừng Dài (Longhorned crazy ants) mang tên đăng ký khoa học là Paratrechina longicornis hay Formica vagans.  Các anh chị Kiến Điên Sừng Dài nầy mặc áo quần màu đen- xám trông không đẹp lắm trái lại có vẻ bụi đời.  Các anh chị Kiến Điên Sừng Dài nầy sống khắp nơi trên thế giới ở các vùng ẩm ướt, khí hậu nhiệt đới.  Các anh chị ấy sống trong các đống rác, cây gỗ mục, dưới đất ẩm.  Vì hay đi lang thang bất định nên các anh chị ấy bị loài người cho là điên nên lang thang như người điên không biết đường về.
Loài người có cái nhìn khác nhau về chúng tôi.  Đa số tỏ ra oán ghét chúng tôi vì chúng tôi cắn họ, đục các loại ngũ cốc, đậu, khoai củ, làm hư gỗ, vách của họ.  Họ hoan nghinh sự hiện diện của Kiến Vàng chúng tôi trong vườn cây ăn trái của họ vì chúng tôi có nhiều formic acid làm cho các sâu bọ, Kiến Hôi phải bỏ chạy không phá cây trái của họ. 
Nhưng thưa quí vị, họ bán bào thai của chúng tôi ngoài chợ Thái Lan, Indonesia…để ăn hay để câu cá.  Đau đớn thay những Huỳnh Mã Nghị tử chưa được lớn lên để thấy Bangkok và Djakarta một lần.
Mã Nghị tộc chúng tôi có phá hại mùa màng của loài người nhưng loài người cũng có dành cho chúng tôi nhiều ý nghĩ  tốt:
-   Trong Cựu Ước Kinh, sách Proverbs (Châm Ngôn) 6: 6 có câu: Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài Kiến; Khá xem xét cách ăn ở nọ mà học khôn ngoan.    
-   Trong bài ngụ ngôn La Cigale et La Fourmi, lão La Fontaine khen chúng tôi siêng năng cần mẫn và biết phòng xa nên đến mùa đông giá rét vẫn có đủ thức ăn.  Còn vợ chồng thằng cha Ve lo ca hát suốt mùa hè không làm lụng, tích luỹ chi cả nên mùa đông bị đói meo.
-   Người Việt Nam ca ngợi sự siêng năng, kiên nhẫn và óc hợp quần của Kiến qua câu:
Kiến tha lâu đầy ổ.
Kiến cắn bụng là bụng đói tựa chữ có Kiến cắn vậy.
Kiến bò miệng chảo:  chảo bị hơ lửa nóng Kiến bò lên miệng rồi cũng chết vì nóng.
Khi loài người tựu hợp đông đảo họ nói:  Đông như Kiến cỏ.  Mấy anh chị Kiến Cỏ yếu đuối, mảnh khảnh và hiền lành nên không gây oán gây thù với loài người như mấy anh chị Kiến Lửa, Kiến Nhọt.
Người Anh có câu:
Have ants in one’s pants 
(Kiến trong quần)  
tức nóng lòng làm một việc gì; thiếu kiên nhẫn.
Kẻ yếu hèn trong xã hội mà dám kiện cáo cường hào ác bá địa phương được người Việt Nam ví với chuyện Con kiến mà kiện củ khoai!
Trong huyền thoại Hy Lạp có nói đến người Myrmidons ở vùng Thessaly.  Trong huyền thoạiChiến Tranh Thành Troy người Myrmidons đặt dưới sự chỉ huy của Archilles.  Căn cứ vào huyền thoại, người Myrmidons do Thần Zeus tạo ra từ ổ Kiến.  Theo Hy Lạp ngữ Myrmex có nghĩa là Kiến (Mã Nghị).
Trong tinh tú học có Mây Kiến (Mã Nghị Vân) tức Ant Nebula Menzel 3 (MZ3) là mây hành tinh cách Trái Đất 8,000 năm ánh sáng!  Mây Kiến nằm trong chòm sao Norma.  Nó được xem là một tinh tú chết.
Trong thực vật học người Anh gọi bí kỳ nam là Ant plant (Mã Nghị Mộc).  Bí kỳ nam không phải là bí mà ta ăn như bí đao, bí rợ.  Đó là là cây biểu sinh (epyphitic plant) thường thấy ở vùng rừng sát ở Việt Nam, Cambodia, Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia. 
Cây có gốc lồi lên to như củ khoai mỡ.  Các bà con Kiến của chúng tôi chun theo các lỗ nhỏ trên cái gốc lồi tựa như củ ấy để sống và có thức ăn thích hợp vì có vị ngọt!  Tên khoa học của bí kỳ nam là Hydnophytum formicarum, gia đình:  Rubiaceae.  Trong tên khoa học có chữ formicarum (formica: Kiến .<.La Tinh.>.).  Loài người dùng bí kỳ nam để trị viêm gan, tê thấp, kiết lỵ v.v.
Có một loại thảo mộc khác cũng được người Anh gọi là ant plant.  Đó là cây kỳ nam gai mang tên khoa học Myrmecodia tuberosa, gia đình Rubiaceae  (Myrmex:  Kiến .<.Hy Lạp ngữ.>.).  Rễ phù to như củ khoai to.  Bà con Mã Nghị tộc của chúng tôi đục lỗ vào sống an lành trong đó.  Họ bảo vệ cây chống lại bọn Sâu Bọ phá hại cây, gia tăng nitrogen, potassium, phosphorus cho cây.  Bù lại cây cho các anh chị Kiến chỗ trú ngụ. 
Người Việt Nam nói đúng:  Có qua có lại mới toại lòng nhau.  Vua William II (Wilhelm II- 1859- 1941) của nước Đức còn nói rõ hơn:  Les petits cadeaux entretiennent l’amitie.  (Những món quà nhỏ bảo trì tình thân hữu). 
Mã Nghị tộc sống trong cây bí Kỳ nam là tộc Kiến Vàng mặc quần áo vàng hay màu hung đỏ- đen trông hung dữ lắm.  Tên khoa học của tộc này là Iridomyrmex cordatus  (Myrmex: Kiến .<.Hy Lạp ngữ.>.) hay Philidris cordata (tên cũ).  Các anh chị Kiến này sống trong gốc cây biểu sinh có gốc phình to trên cây tràm (melaleuca) ở vùng rừng sát ở Úc, Papua New Guinea, Indonesia, Mã Lai.  Người Anh gọi cây biểu sinh đó là ant- house plant chúng tôi dịch thành Cây Mã Nghị Ốc vì Kiến sống trong loại cây tí hon hình cổ chai nầy.  Tên khoa học của cây Mã Nghị Ốc là Myrmecodia beccarii.
Loài người ở vùng nhiệt đới Á Châu dùng bí kỳ nam gai Myrmecodia tuberosa trị viêm gan, ung thư, tê thấp.  Bí kỳ nam gai có phenolic acid, saponins, phytosterols v.v.
Trẻ em Hoa Kỳ vào học lớp dự bị mẫu giáo đã ca bài The Ants Go Marching One by One.
Thưa quí vị đại biểu, như quí vị đã thấy, loài người ghét Mã Nghị tộc chúng tôi, dùng thuốc hay bột hóa học tiêu diệt chúng tôi vì chúng tôi phá hại nhà của họ, mùa màng của họ, hoa màu họ thu hoạch được.  Với những công tác này chúng tôi tự hào đã góp phần không nhỏ vào việc lên án và kháng lại loài người.  Quí vị chớ xem thường Mã Nghị tộc nhỏ bé này.  Chúng tôi lưu ý với quí vị, động vật càng nhỏ, hiệu năng phá hoại và gây tổn hại cho loài người càng cao.  Quí vị hỏi đại biểu Tượng tộc xem họ có sợ Mã Nghị tộc không?  Rồi quí vị tìm loài người và hỏi xem họ sợ Kiến và vi trùng như thế nào thì rõ?  Quí vị đừng quên rằng con ông Pasteur chết vì bị trúng thương hàn. 
Loài người ghét Mã Nghị tộc chúng tôi nhưng họ cũng cần và nễ nang chúng tôi.  Ghét thì quí vị thấy rồi.  Cần thì quí vị thấy họ giăng dây cho Kiến Vàng chạy về vườn cây ăn trái của họ (vườn cam, quít, bưởi; vườn xoài; vườn cà phê, ca- cao v.v).  Họ cần formic acid của Kiến Vàng chúng tôi.  Họ cần bào thai và cả thân xác Kiến Vàng chúng tôi để làm thức ăn, mồi câu cá và làm thuốc nữa.  Họ nễ nang chúng tôi qua ngôn từ của họ. 
Họ nễ:
- tính quyết tử điên cuồng của Mã Nghị tộc.      
- tinh thần đoàn kết và hợp quần của chúng tôi.      
- óc tổ chức và phòng xa của chúng tôi.
Họ thán phục khứu giác của chúng tôi.  Khi có người hay động vật chết thì Mã Nghị tộc chúng tôi có mặt để kiếm phần ăn.   Nếu là vật nặng chúng tôi gọi cả ổ ra khiêng phần ăn về kho dự trữ lương thực phòng khi đói kém.  Nhìn chúng tôi đi chuyển, họ đoán biết sự biến động của thời tiết.  Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy chúng tôi di chuyển trên một hòn non bộ mà khuyên Nguyễn Hoàng, qua người sứ giả, hướng về phía nam dãy Hoành Sơn mà sống. Vậy mà loài người ăn bào thai Mã Nghị tộc hay dùng bào thai ấy bán cho người câu cá không một chút hối tiếc.  Cá ăn Kiến.  Khi Cá chết thì Kiến ăn Cá.  Huề!  Huề giữa Mã Nghị tộc và Ngư tộc!  Còn con cháu nhà họ Điểu thì sao?  Chim ăn Kiến thì Kiến cũng ăn Chim.  Chỉ cần một bầy Kiến chun vào ổ Điểu tộc thì các bạn chỉ lìa bỏ tổ ấm mà đi xa thôi.  Các bạn không thể ăn hết Mã Nghị tộc chúng tôi được.  Các bạn không nghe người Việt Nam nói đông như Kiến sao?
Mã Nghị tộc chúng tôi nhỏ bé nhưng loài người không dám khinh thường chúng tôi vì chúng tôi đoàn kết, không sợ chết khi phải chiến đấu.  Chúng tôi biết tự túc, tự lo liệu để tạo sự ấm no và phồn thịnh cho tộc mình.  Hòa Lan, Thụy Sĩ, Do Thái, Singapore đâu phải là những nước to lớn, đông dân nhưng không vì thế mà các nước lớn xem thường họ vì họ có trí tuệ, có đoàn kết để cùng tạo cho đất nước họ có một nền kinh tế cường thịnh.  Mã Nghị tộc chúng tôi nhỏ bé, không có trí tuệ như loài người nhưng có sức mạnh tập thể nên cũng được ấm no, sung túc.
Tôi, đại diện Mã Nghị tộc hoàn vũ cảm ơn quí vị lắng nghe bài tham luận của chúng tôi. 
Lời thật dễ mất lòng.  Nếu có, xin quí vị bỏ qua cho.  Lời nói là gió thoảng, không hình thù, không màu sắc, không hương vị nhưng có tác dụng làm cho vài người tức ói máu mà chết.  Vậy anh chị Cá và Chim đừng buồn nhé!    
Trân trọng cảm ơn quí vị và kính chào đoàn kết.
Ban Nhạc Formica trổi bản The Ants Go Marching One by One do các nhi đồng tộc Kiến Vàng trình bày.  Đại biểu Mèo Fossa đảo Madagascar nói với đại biểu Beo: “Anh còn nhớ đám này không?  Bọn nó chun vào lỗ tai và cắn đau nhức không sao tả nổi.” Beo đáp: "Tụi mình thích sống leo trèo trên cây nên dễ bị các loài côn trùng quấy nhiễu.  Tôi bị Ong chích, mình đầy vết thẹo vì phá ổ Ong để ăn mật.  Mắt của anh lờ mờ vì bọn Ruồi và Bồ Hóng phải không?” Mèo Fossa khẽ gật đầu.  “Gia đình tôi mất ngủ vì đám Kiến này.  Gặp chúng thì thấy chúng nhe càng, hung hăng đáng ghét.” Mèo Fossa nói.
           
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

david pham

09:25 (1 giờ trước)
tới Buu, Chien, Chieu, Duc, Ruoi, An, An, An, Anh, anh, Bat, Buu, Cai, Cai, ​Kahn, Catherine, Che, Chi, Cua, Cung, Dan, Dan, Dao, Diana, Diem, Dung, Duoc, Duong, Dzung, Hiep, Hoa, Hoa, Hoan, Hung, Hung, Kenny, Khanh, Khoa, khuong, Kiet, Kimdung, Lam, Lich, Linh, Loc, Loc, loc, loc, Loi, Lu, Mai, Mai, Mai, Mon, Muot, nga, Nghi, Ngọc, ngoc, Ngoc, Nhan, Peter, tôi, phan, Phong, phuoc, phuoc, Phuong, Phuong, Phuong, Quan, Quang, Quang, Quy, Sa, Sang, sang, Song, Tai, Tao, Thanh, Thanh, Thanh, Thanh, Thap, The, Thi, Thi, Thoa, Tien, Lephattrien1935@gmail.com, Triet, Trinh, Troi, Trong, Tuan, Tue, Tuyet, Uc, Van, Viethieu, Vinh, Vinh, VPHoang, Vy
Than goi cac ban than bai Ma Nghi Truyen duoc danh dau va minh hoa.
Doi khi ta can ke nho be va kem hon minh va hoc hoi mot dieu gi noi ho.  
Van Su Lanh
Than
phamdinhlan (david)

TB:  Thanh that chia buon cung Hung Son- Anh Dao ve su ra di vinh vien cua than mau va cau nguyen cho huong hon ba cu som ve NUOC CHUA.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

Pham Dinh Lan - the water rail



Pham Dinh Lan - the water rail

Hộp thư đến
x

david pham

08:55 (35 phút trước)
tới An, An, An, Anh, anh, Bat, Buu, Cai, Cai, ​Kahn, Catherine, Che, Chi, Cua, Cung, Dan, Dan, Dao, Diana, Diem, Dung, Duoc, Duong, Dzung, Hiep, Hoa, Hoa, Hoan, Hung, Hung, Kenny, Khanh, Khoa, khuong, Kiet, Kimdung, Lam, Lich, Linh, Loc, Loc, loc, loc, Loi, Lu, Mai, Mai, Mai, Mon, Muot, nga, Nghi, Ngọc, Ngoc, ngoc, Nhan, Peter, tôi, phan, Phong, phuoc, phuoc, Phuong, Phuong, Quan, Quang, Quang, Quy, Sa, Sang, sang, Song, Tai, Tao, Thanh, Thanh, Thanh, Thanh, Thap, The, Thi, Thi, Thoa, Tien, Lephattrien1935@gmail.com, Triet, Trinh, Troi, Trong, Tuan, Tue, Tuyet, Uc, Van, Viethieu, Vinh, Vinh, VPHoang, Vy
Than goi cac than huu bai viet dinh kem khong can bo dau.
Van su lanh
Than
phamdinhlan (david)



From: David Pham <davidlanpham@me.com>
Sent: Friday, August 10, 2018 8:36 AM
To: David Pham
Subject: Pham Dinh Lan - the water rail
 

Pham Dinh Lan - the water rail

DAVID LAN PHAM, F.A.B.I.
THE WATER RAIL
          The water rail is a bird with a long beck living in the reedy and swampy areas. The scientific name of the water rail is Rallus aquaticus Family: Rallidae.
The Vietnamese call it ‘chim do quyen’, ‘do vu’, ‘chim quoc quoc’, ‘ga nuoc mo dai’.
The French call it Rale d’eau; Spanish: Rascon europeo; Japanese: Yo- roppakuira; Chinese: Xi fang yang ji.
Here we have two stories about the water rail (Chim Do Quyen) in the Vietnamese popular tales and in Chinese etymology.
****
Nhan and Quoc were two intimate friends. They were poor. They lived together. They loved and helped each other as if they were blood brothers.
Nhan was married to a lady from a rich family. He had a cozy life while his friend Quoc remained poor. He was unlucky in the triennial contest to get a good job to improve his life. Nhan suffered a lot, seeing his friend in his misery. He convinced his wife to let his friend live in their house. His wife accepted his proposal reluctantly. Nhan was happy to take care of his friend as he did in the past. But his wife didn’t share this moral happiness with him. She asked her husband whether he owned debt to Quoc in the past life. That is why her husband paid for the debt by letting his ‘creditor’ live in his house and by serving him every day. Nhan told his wife not to repeat this non-sense separating him from his friend.
Their conversation was heard by Quoc, who left Nhan’s house in the very morning. Quoc didn’t know where to go? He had no family, no relatives, no friends except for Nhan. Exhausted for lack of food he died in the forest.
Nhan spent time looking for his friend Quoc. Where to find him? He walked without knowing the destination. He came into the forest. Centennial trees hid the sun. He was lost in the botanical world without finding the exit. Walking in the forest he continually called “Quoc! Quoc!”, his friend’s name. All the trees were plunged into an horrible silence. Nhan was sent to despair. He died of starvation (in some tales he was devoured by the tiger). His soul infiltrated in the water rail to keep on calling “Quoc!”, “Quoc!”
 
****
In China the water rail was believed to be the soul of the King of the Shu Han after the fall of this kingdom in 263 AD.
Great poet Nguyen Du wrote:
Ay hon Thuc De hay minh Do Quyen?
Is that the soul of Shu Di (1) (Thuc De) or the body of the water rail?
(1) Shu Di (Thuc De): Emperor of the Shu Han kingdom.
In the Three- Empire time China was divided into:
1. The Wei kingdom in the North (Nguy)
2. The Wu kingdom in the East (Ngo)
3. The Shu Han kingdom in the West (Thuc Han)
The Shu Han dynasty lasted 42 years with two Kings:
a. Liu Bei (King: 221- 223 AD) (Luu Bi)
b. Liu Shan (King: 223- 263) (Luu Thien)
Liu San (Luu Thien born 207- 271 AD) became King when he was 16 years old. He died in Loyang (Lac Duong), capital of the Wei in 271 AD, 08 years after the fall of the Shu Han kingdom. He was granted the title of Duke by the Wei after his Shu Han kingdom was lost to the Wei.
Two daughters of Zhang Fei (Truong Phi) were King Liu Shan’s wives. The King had two good advisors such as Zhuge Liang (Gia Cat Luong) and Jiang Wan (Tuong Uyen). The death of those advisors marked the inevitable decadence of the Shu Han kingdom.
From 245 on, the most influential official at the Court was the corrupt eunuch Huang Hao. It was said King Liu Shan died in Loyang (Lac Duong), missing his Shu Han kingdom. His soul was that of the water rail of which the sound of the crow is “Quoc! Quoc!” (nation; country).
****
The first tale insists on faithfully intimate friendship. The Vietnamese used to say:
When people are rich they change their friends
When people are honorable they change their wives.
Nhan didn’t follow this life rule although his wife was from a wealthy family. He called “Quoc! Quoc!” simply because his friend’s name was Quoc. He never forgot his miserable friend. It was a rare exception in our life on Earth.
The second tale looks historical and political.
Owning a kingdom, King Liu Shan didn’t cherish it. Loving flattery he listened to the corrupt eunuch to lose the kingdom to the Wei. The sound ‘Quoc! Quoc!” in the second tale is the melancholic remorseful one from the King missing his lost country.
****
In the Vietnamese language Do Quyen has two meanings:
1. The water rail (Scientific name: Rallus aquaticus Family: Rallidae
Countries
Common Names
VietNam
Do quyen; do vu; ga nuoc mo dai; chim quoc quoc
UK
Water rail
France
rale d’eau
China
Xi fang yang ji
Spain
Rascon europeo
Japan
Yoroppakuira

2. The azalea flower (Scientific name: Rhododendron occidentale Family: Ericaceae
Countries
Common Names
VietNam
Do quyen
UK
Azalea
France
Azalee
China
Yingshanhong
Spain
Azalea
Japan
Tsutsuji

The azalea flowers are beautiful. They are pink, red, yellow, white.
The leaves, nectar, flowers of Rhododendron are poisonous to animals and humans. Toxin can cause very low blood pressure and irregular heart rhyms. Honey made by bees sucking the nectar of the azalea flowers is poisonous, too. It is called mad honey.

Extract from The Vietnamese Popular Tales by David Lan Pham (Pham Dinh Lan)
  

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

CẦU NGUYỆN PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

CẦU NGUYỆN    PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

Pham Dinh Lan - cau nguyen


david pham

19:15, Th 3, 31 thg 7 (3 ngày trước)
tới An, An, An, Anh, Bat, Buu, Buu, Cai, ​Kahn, Catherine, Che, Chi, Cua, Chieu, Cung, Dan, Dan, Diana, Dung, Duoc, Duong, Dzung, Hiep, Hoa, Hoan, Hung, Khanh, Khoa, khuong, Kiet, Kimdung, Lam, Lich, Loc, Loc, loc, loc, Loi, Lu, Mai, Mai, Mai, Mon, Muot, nga, Nghi, Ngọc, ngoc, Ngoc, Nhan, Peter, tôi, phan, Phong, phuoc, phuoc, Phuong, Phuong, Quan, Quang, Quang, Quy, Ruoi, Sa, Sang, sang, Song, Tai, Tao, Thanh, Thanh, Thanh, Thanh, Thap, The, Thi, Thi, Thoa, Tien, Lephattrien1935@gmail.com, Triet, Trinh, Troi, Trong, Tuan, Tue, Uc, Van, Viethieu, Vinh, Vinh, VPHoang, Vy
Van su lanh
phamdinhlan (david)



From: David Pham <davidlanpham@me.com>
Sent: Tuesday, July 31, 2018 8:07 AM
To: David Pham
Subject: Pham Dinh Lan - cau nguyen
 

Pham Dinh Lan - cau nguyen

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
CẦU NGUYỆN  
   

          Con người thời nguyên thủy sợ đủ thứ. Sợ mặt trời. Sợ mặt trăng. Sợ các hiện tượng thời tiết (lụt lội, bão tố, hạn hán, sâu bọ). Sợ thú dữ v.v. Óc mê tín, dị đoan tự nhiên nảy nở.
Ở vùng có nhiều Rắn, Sấu, Cọp, Beo và thú dữ thì người ta thờ Rắn, Sấu, Cọp, Beo và các loại dã thú có thể gây phương hại đến đời sống của họ. Người ta không ngần ngại gọi Voi, Cọp, Cá to lớn bằng ÔNG một cách sợ sệt và kính cẩn.

Triết lý dẫn con người đến tôn giáo từ đa thần đến độc thần. Khi gặp chuyện gì khó khăn ảnh hưởng đến an ninh, đời sống, sức khỏe, sự nghiệp tương lai, người ta dùng sự cúng tế và lời khấn nguyện để cầu xin. 99.9% các lời cầu nguyện xuất phát từ lợi ích cá nhân và gia đình. Một tỷ lệ cực kỳ nhỏ dành cho tha nhân, đất nước và dân tộc. Mỗi làng xã ở Việt Nam hàng năm đều có lệ cúng Kỳ Yên (Cầu An), cầu cho mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp. Việc cầu quốc thái dân an do Vua chủ trì. Vua được xem và tự xem là Thiên tử thay Trời để trị nước, an dân, mang ấm no hạnh phúc cho họ. Thiên mệnh sẽ lung lay nếu Vua không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Gạt chuyện to lớn qua một bên để nói chuyện nhỏ liên quan đến sự cầu nguyện cho lợi ích của cá nhân mình.

Theo sự hiểu biết thô thiển, chúng tôi ví lời cầu nguyện như một đơn xin về một chuyện gì đó. Lời cầu nguyện có được đáp ứng hay không cũng giống như đơn xin có được đáp ứng hay không. Một đơn xin không được được cứu xét khi:

1. nội dung của nó không rõ ràng, ý tứ lộn xộn khiến người đọc không hiểu người làm đơn muốn nói cái gì để cứu xét.

2. sự cầu xin không hợp tình và hợp lý.

3. đơn gởi không đúng chỗ có thẩm quyền cứu xét.
Lời cầu nguyện không phải lúc nào cũng được đáp ứng. Vì sao?

a. Tâm người cầu nguyện không thanh sạch? Sự cầu xin thiếu khách quan và sự công bằng mà chỉ đầy dẫy lợi lộc ích kỷ?

b. Nội dung lời cầu nguyện không rõ ràng giống như một đơn xin viết lộn xộn, ý tứ ngổn ngang khó hiểu người cầu nguyện muốn cái gì?

c. Người cầu nguyện hướng về ai khi cầu nguyện?

d. Người cầu nguyện có thực sự bất tư nghì khi cầu nguyện không? Chúng ta tạm ví trường hợp này với hình ảnh một người làm đơn lên quan huyện để xin một việc gì đó. Khi đưa đơn cho quan huyện người ấy hỏi: "Ông có thẩm quyền giúp tôi không?” Câu hỏi này cho thấy người xin trong đơn không đủ tin tưởng về thẩm quyền của người cứu xét đơn mình. 99.9% câu trả lời của quan huyện là "Không.”

e. Thiếu sự thiết tha và thành khẩn mà chỉ cầu xin lấy lệ cho vui.

Cho nên người có đức tin (faith- foi), có óc khách quan, công bằng và nhân ái cầu nguyện có năng suất cao hơn người không có những đức tính vừa kể.

Cầu nguyện hướng về ai?

- Tùy theo tôn giáo của người cầu nguyện. Thông thường Đức Mẹ Santa Maria (Thiên Chúa Giáo), Đức Chúa Jesus (tín hữu Thiên Chúa Giáo, Tin Lành); Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức Phật nếu là tín hữu Phật Giáo; Đức Allah nếu là tín hữu Hồi Giáo. Người thờ Quan Công khấn nguyện với Phật Già Lam. Ở Việt Nam, người mất vật gì trong nhà thường khấn vái Ông Địa. Thổ Thần, Thổ Địa, Thần Táo được xem là các vị đặc trách chuyện "nội vụ" nhà cửa. Người Do Thái cầu nguyện tập thể tại Bức Tường Than Khóc ở Jerusalem, tâm hướng về Đức Jehovah.

Pháp là quốc gia Thiên Chúa Giáo. Đó là một quốc gia phát triển quan trọng trên thế giới trên các lãnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, kỹ thuật từ thế kỷ XVII về sau. Ít ra Pháp có 50 nhân vật được thế giới biết đến như Louis XIV, Napoléon I, Charles De Gaulle, Clémenceau, Henri Poincarré, Louis de Broglie, Colbert, Richelieu, Pascal, Descartes, Pasteur, Claude Bernard, Victor Hugo, Lamartine, Marie Curie, Chopin, La Fayette, Ferdinand de Lesseps, Chateaubriand, Corneille, Racine, Alfred de Musset, Alfred de Vigny, Albert Camus, George Sand, Beaudelaire, Jean-Paul Sartre v.v. Chắc chắn người Pháp không thiếu tinh thần khoa học kể cả óc vô thần.
 
Chuyện người bịnh bất trị đã khỏi khi đến cầu nguyện Đức Mẹ Lourdes (Notre Dame de Lourdes- Our Lady of Lourdes) mà người Việt Nam gọi là Đức Mẹ Lộ Đức không phải là chuyện mê tín dị đoan, mộng mị mà là chuyện có thật được nhiều người công nhận. Đức tin và sức mạnh của sự cầu nguyện trở thành một võ khí cực mạnh và cực thanh sạch để cứu người.

Tôi sống gần bà tôi một thời gian ngắn ngủi. Điều tôi để ý nhất về bà là chiều nào bà cũng cúng nước ngoài bàn Thiên và van vái dài dòng rất văn hoa mặc dù bà tôi là người sinh vào hậu bán thế kỷ XIX, thời kỳ phụ nữ không được đi học. Như bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác cùng thời, bà không biết chữ nhưng lời cầu nguyện của bà rất văn hoa, dài dòng, khó nhớ đến nỗi bây giờ tôi không nhớ được câu nào ngoại trừ những chữ như: Hoàng Thiên Hậu Thổ, Đất Đai Nhân Trạch v.v. Thông thường người không học thì nét mặt thiếu vẻ sáng. Bà tôi có vẻ ngược lại. Mắt bà rất sáng như trí của bà. Trí nhớ và cách tính nhẩm của bà rất tốt. Điều đặc biệt là bà sống rất ung dung và được dân trong làng trọng nể yêu vì. Một người em trai của bà giỏi về võ nghệ, tánh tình hung hăng hay hiếp đáp các chị trong nhà. Nhưng ông không bao giờ dám đụng chạm đến người chị cả của ông tức bà tôi. Bà sống an lành và sung mãn qua hai cuộc chiến khốc liệt trên quê hương trong làng sinh quán của mình. Bà ra đi êm ả ở tuổi 90. Đám tang của bà rất trọng thể. Có phải chăng đó là sự hồi âm của những lời khấn nguyện hằng ngày của bà? Đó là điều tôi học nơi bà tôi trong thời gian ngắn ngủi sống bên cạnh bà.

Sau năm 1975 người anh cả của tôi nói cho tôi biết về chuyện một người bạn của anh làm việc cho một nhà buôn Pháp ở Sài Gòn trước năm 1975. Sau năm 1975 người bạn này có con vượt biên và định cư ở Ý. Vài năm sau con của anh ấy bảo lãnh anh sang Ý. Anh cảm thấy lạc lõng ở Ý vì không có công việc. Cuộc sống không mấy khả quan. Ngôn ngữ lạc lõng. Ở Sài Gòn anh nói thông tiếng Pháp và biết chút ít tiếng Anh. Anh có nhà cửa khang trang, rộng rãi ngay tại Sài Gòn. Đến Ý, anh như người mới bắt đầu đi học nếu muốn giao dịch với người địa phương. Càng ở xa đô thị càng buồn thêm. Một người có khả năng, muốn làm việc lại thúc thủ trong vùng hẻo lánh của một nước tân tiến thì không sao không buồn nản được. Ngay cả nhiều người Ý cũng vượt biên giới sang Pháp tìm công việc làm.
Một hôm người bạn của anh tôi thăm viếng thành phố Lourdes trên chân đồi trong dãy Pyrénées cực tây nam nước Pháp. Khi còn ở Sài Gòn anh vẫn nghe nói nhiều về Đức Mẹ Thành Lourdes (Notre Dame de Lourdes). Anh đến đó khấn nguyện hàng giờ về hoàn cảnh khá tuyệt vọng của anh: người hoạt động lại rơi vào cảnh thụ động. Người nói thông thạo tiếng Pháp lại sống ở một nước Ý với ngôn ngữ xa lạ với anh. Anh đã mất rất nhiều:
- mất kỷ niệm tại quê hương sau 1975
- mất công việc đã có
- mất nhà cửa và tài sản để trở thành người lưu lạc sống nhờ vào xứ người.

 Anh ngồi và khấn nguyện hàng tiếng đồng hồ khiến cho một người Pháp để ý đến. Người Pháp tiến gần người bạn của anh tôi và hỏi: “Xin lỗi, tôi thấy ông ngồi ở đây hàng giờ. Xin lỗi, tôi hỏi tò mò không biết ông có tâm sự gì chăng và ông khấn nguyện điều chi?” Người bạn của anh tôi không ngần ngại trình bày hết nỗi lòng của anh và cho người Pháp biết anh ước muốn có một công việc làm nhưng vẫn không có. Anh cho người Pháp ấy biết anh có gần 30 năm làm việc cho nhà buôn Pháp DF (Denis Frères) ở Sài Gòn.
 

Nghe xong câu chuyện, người Pháp vui mừng cho biết ông có một nhà buôn như DF và ông đang cần một người có chuyên môn và kinh nghiệm như người bạn của anh tôi có. Ông đưa cho bạn anh tôi một carte visite và nói: "Ông về Ý thu xếp việc nhà. Xong đến địa chỉ này để gặp tôi và bắt đầu nối lại công việc bị gián đoạn từ năm 1975 đến nay.”

Thế là việc cầu nguyện được đáp ứng ngay tại chỗ. Anh cả tôi đã mất cách đây 20 năm. Không biết bây giờ người bạn của anh còn sống ở Pháp hay không.

Tôi vô cùng xúc động khi đọc một bản tin cho biết cựu đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon ở Sài Gòn cho đến ngày Sài Gòn sụp đổ, đã cùng vợ đến Lourdes cầu xin cho nước Việt Nam. Nếu tin này có thật, là người vô danh ở một góc Trời, tôi chân thành cảm kích nghĩa cử cao thượng của một nhà ngoại giao ngoại quốc một thời phục vụ trên đất nước Việt Nam thân thương, nơi từng đầu cây ngọn cỏ đều lưu lại nhiều kỷ niệm sâu sắc trong tâm não người Việt Nam.

Trên hành tinh nầy việc xấu nhất, tốt nhất và hiếm hoi nhất vẫn diễn ra đều đều. Nguyên lý sinh tồn vẫn dựa vào các phương châm hầu như bất di dịch:

Ai tìm kiếm thì gặp.
Ai xin thì được
Ai gõ cửa thì cửa sẽ mở.

Không người cha, người mẹ nào dù tàn nhẫn đến đâu cũng không cho con mình rắn khi chúng xin bánh. Đó là những chuyện hiển nhiên xảy ra trước mắt.
  
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.