Bài đăng nổi bật

Nghe 100 Truyện ngắn của Tràm Cà Mau

  Nghe 100 Truyen Ngan Cua Tram Ca Mau ( Tac gia không giữ bản quyền.) bấm mỗi dòng dưới đây để nghe một truyện: Tuoi Gia La Tuoi Sung Suong...

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

THẢO MỘC TRỊ HO LAO TRÊN THẾ GIỚI - PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

THẢO MỘC TRỊ HO LAO TRÊN THẾ GIỚI
  PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
From: David Pham <davidlanpham@me.com>
Sent: Saturday, August 12, 2017 5:28 AM
To: David Pham
Subject: Pham Dinh Lan - thao moc tri ho lao tren the gioi
 

Pham Dinh Lan - thao moc tri ho lao tren the gioi

THẢO MỘC TRỊ HO LAO TRÊN THẾ GIỚI
            Bịnh ho lao (TB: Tuberculosis) là một bịnh gây tử vong rất nhiều ở các quốc gia nghèo đang mở mang. Ngày xưa ho lao nằm trong tứ chứng nan y trong Đông Y. Tứ chứng nan y là bốn (04) loại bịnh không chữa được trong ngành Đông Y. Thực tế Tây Y cũng có cái nhìn tương tự dù không thẳng thắn nói rằng đó là những bịnh không thể chữa trị nổi. Tứ chứng nan y đó là:
Phong, Lao, Cổ, Lai.
Phong là bịnh về dị ứng (allergy)
Lao là ho lao (tuberculosis)
Cổ là cổ trướng (Cirrhosis- Cổ: cái trống vì gan người bịnh bị tổn thương. Đại, tiểu tiện 
           bất thông. Bụng to lên như cái trống)
Lai: phong hủi (leprosy).
Bịnh lao là bịnh do vi trùng Mycobacterium tuberculosis (MTB) được viết vắn tắt là vi trùng Koch vì được ông Robert Koch (1843- 1910), một bác sĩ và nhà vi trùng học người Đức, khám phá ngày 24 tháng 03 năm 1882. Năm 1905 ông Koch được lãnh giải thưởng Nobel về Y học. Ông chế ra glycerine gọi là tuberculin để trị bịnh lao. Ngày nay người ta lấy ngày 24 tháng 03 làm ngày Lễ Bịnh Lao.
Năm 1906 bác sĩ và nhà vi trùng học Pháp Albert Calmette (1863- 1933) và Camille Guérin (1872- 1961) dùng vi trùng lao của bò Mycobacterium bovis làm một loại thuốc chích trị bịnh lao . Đó là BCG chữ viết tắt của Bacillus Calmette- Guérin. Vi trùng Mycobacterium bovis gây bịnh lao như vi trùng Mycobacterium tuberculosis nếu ăn thịt bò sống của con bò bị nhiễm vi trùng lao. Có phải chăng câu “Dở như phổi bò” là một lời cảnh giác về bịnh lao truyền nhiễm từ bò sang người vì bò lao lực nhiều nên dễ bị nhiễm trùng lao phổi?
Bịnh lao được xem là bịnh của nghèo khổ, lao lực nhiều nhưng thiếu dinh dưỡng. Nó cũng xảy ra do sống gần gũi người bị bịnh. Người không bịnh hít không khí của người bịnh nhiễm trùng lao và bị bịnh lao. Bịnh lao cũng được tìm thấy nơi những người bị nhiễm HIV.
Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX bịnh lao gây tử vong cho nhiều người trên thế giới kể cả Hoa Kỳ. Đến giữa thế kỷ XX ở Âu Mỹ tỷ lệ người bị bịnh lao giảm xuống 90%. Năm 1943 một sinh viên tiến sĩ Hoa Kỳ tên Albert Israel Schalz (1920- 2005) khám phá ra trụ sinh Streptomycin C21 H39 N7 O12. Việc chữa trị bịnh lao đạt kết quả mỹ mãn. Số tử vong về bịnh nầy giảm xuống rõ rệt. Dù vậy, theo thống kê năm 2012, trên thế giới vẫn có 8.6 triệu người bị bịnh lao nhất là ở các quốc gia Á-Phi- Châu Mỹ La Tinh đang phát triển. Hàng năm có từ 1.4 đến 1.5 triệu người chết vì bịnh này trên thế giới.

Bài viết này không có mục đích chỉ thuốc trị hay ngừa lao mà chỉ ghi lại những loài thảo mộc mà loài người dùng trong quá khứ xa xưa để trị bịnh lao. Số tử vong to lớn của những người mắc bịnh lao trong quá khứ cho thấy hiệu quả tương đối của những loài thảo mộc mà chúng tôi sắp đề cập.
 

****
 
            Theo kinh nghiệm trị liệu cổ truyền của các dân tộc trên thế giới khi bị bịnh lao, có hàng chục loài thảo mộc khác nhau dùng để trị bịnh này. Các loài thảo mộc dùng để trị bịnh lao (TB: tuberculosis) đại cương gồm có: Cây quả hạch Malabar, cây thuốc giòi, sả, tiêu lốt, cây nhàu, hoa bông dừa (hải đăng), rau má v.v.

 
CÂY QUẢ HẠCH MALABAR
Adhatoda vasica
Justicia adhatoda
Gia đình: Acanthaceae
Malabar là miền duyên hải phía tây của nước Ấn Độ. Cây quả hạch Malabar được tìm thấy nhiều ở Malabar, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Indonesia.
Cây quả hạch Malabar cao lối 3 m. Lá cây màu xanh sẫm, dài và rộng. Gân lá chìm, sắp theo hình xương cá. Hoa dài lối 40 cm, màu trắng có chỉ hồng rất đẹp. Cây thích hợp với đất có nước. Vì vậy người Anh gọi là water willow tức thủy liễu nhưng đừng nhầm với thủy liễu là tên gọi văn vẻ của cây bần. Gỗ cây quả hạch Malabar mềm, đốt thành than dùng làm thuốc súng. Trái có nắp và có 04 hột.
Tên khoa học của cây quả hạch Malabar là Justicia adhatoda thuộc gia đình Acanthaceae. Tên gọi thông thường:
Quốc Gia
Tên Gọi
Anh
Malabar nut tree, water willow
Ấn Độ
Adulasa
Sanskrit (Phạn)
Vasaka
 
Y thư Ayurveda của Ấn Độ đề cao nhiều đến tính năng trị liệu của cây quả hạch Malabar. Lá, rễ, hoa và vỏ cây quả hạch Malabar được dùng làm thuốc trị ho, suyễn, ho lao, xuất huyết nội, phong hủi, trĩ, kinh nguyệt, loét dạ dày, nướu răng rướm máu, thanh lọc máu, tiểu đường, hạ huyết áp, trục trùng lãi, làm cho phụ nữ mang thai dễ sinh vì kích thích tử cung.
Thành phần hóa học: quinazoline alkaloid C8 H6 N2, vasicine C11 H12 N2 O, adhatodinine, asicinol, tannins, saponins, flavonoids, hợp chất phénol.
Quinazoline alkaloid C8 H6 N2 chống sốt rét, chống ung thư, chống trùng lao.
Vasicine C11 H12 N2 O kích thích hệ thống hô hấp và tử cung.


CÂY THUỐC GIÒI
Sát Trùng Thảo
Cây Bọ Mắm
Pouzolzia zeylanica
Pouzolzia cochinchinensis
Parietaria cochinchinensis
Gia đình: Urticaceae
Có hai loại thảo mộc mang tên cây thuốc giòi. Trước tiên chúng tôi đề cập đến cây thuốc giòi Pouzolzia zeylanica hay P. cochinchinensis thuộc gia đình Urticaceae mà người Việt Nam còn gọi là cây bọ mắm hay sát trùng thảo. Những chữ Zeylanica và Cochinchinensis trong tên khoa học chỉ xuất xứ Sri Lanka (đảo Ceylon) và Nam Bộ Việt Nam.
Cây thuốc giòi được tìm thấy nhiều ở vùng Đông Nam Á, Nam Á, Hoa Nam, bắc Úc Đại Lợi v.v. Đó là một cây có thân mềm, có lông. Lá nhọn màu xanh tươi. Gân lá chìm. Ba gân lá chìm xuất phát từ cuống lá. Hoa nhỏ màu trắng.
Tên khoa học là Pouzolzia cochinchinensis thuộc gia đình Urticaceae. Tên gọi thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Cây thuốc giòi, sát trùng thảo, cây bọ mắm
Phi Luật Tân
tuia, apoyapoyan
Anh
graceful Pouzol’s bush
Trung Hoa
wu shui ge
Tamil
Kallurukki

Người Việt Nam gọi là cây bọ mắm hay thuốc giòi vì người ta dùng lá cây này đậy mắm để làm chết giòi, bỏ trong mắm tôm, mắm nêm. Vì lá cây có thể làm chết giòi thì người ta tin nó có thể làm chết vi trùng lao trong phổi con người.
Cây thuốc giòi có quercetin, vitexin, isovitexin, phyllantin, metyl stearate, beta- sistosterol-3- beta- D- glucopyranoside.
Vitexin C21 H20 O10 và Isovitexin (cùng công thức hóa học) có khả năng diệt trùngStaphyloccus aureus, Escherichia coli và Streptoccus haemolyticus. Vitexin có trong cây thuốc giòi, lá tre hoa Kỳ, hoa lạc tiên (chùm bao), cây cọ bắp cải núi acai palm.
Phyllantin C24 H34 O6 có tính năng bảo vệ gan.
Cây thuốc giòi được dùng để trị ho, ho lao, đau cuống họng. Nó nhuận tiểu, nhuận trường. Ở Phi Luật Tân người ta dùng cây thuốc giòi để trị vết thương và vết loét.
CÂY THUỐC GIÒI DÒNG EUPHORBIACEAE 
Euphorbia dulcis
Euphorbia atoto
Chamaesye atoto
Gia đình: Euphorbiaceae
Cây thuốc giòi dòng Euphorbiaceae được tìm thấy nhiều dọc theo bờ biển Phi Luật Tân, Việt Nam, các hải đảo Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Úc Đại Lợi.
Cây cao lối 60- 70cm , có nhiều nhánh nhỏ màu xanh tươi. Lá xanh, mọc thành hình ngôi sao 05 cánh rất đẹp. Hoa màu trắng- xanh mọc thành chùm trông đẹp mắt. Có loại lá màu tím, láng; hoa vàng. Đó là loại Euphorbia dulcis ‘chameleon’ (Cắc Kè).
Tên khoa học của cây thuốc giòi đại kích lành (sweet spurge) là Euphorbia dulcis, gia đình: Euphorbiaceae. Tên gọi thông thường của cây Euphorbia dulcis:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Cây thuốc Giòi; đại kích lành
Phi Luật Tân
Tairas
Anh
beach spurge (spurge: lai kich); sweet spurge
Trung Hoa
Haibin da ji

Lá giã nhuyễn vắt nước và nhựa cây dùng để làm thuốc trị kinh nguyệt, gây trụy thai, trị ho lao và táo bón (Phi Luật Tân, New Caledonia, hải đảo Thái Bình Dương). Đặt lá trên mắm để tránh hoá giòi.

SẢ
Mao Hương 
Cymbopogon citrates
Cymbopogon nardus
Gia đình: Poaceae
Sả (mao hương) là một loại thảo mộc miền nhiệt đới Á Châu trồng từng tép và nở bụi to; lá dài, mỏng và bén. Sả có mùi thơm của chanh. Đó là một loại cây gia vị rất quen thuộc ở các quốc gia nhiệt đới và bán nhiệt đới. Bụi sả cao từ 1- 1.50 m, không hoa, không trái.
Tên khoa học của Sả là Cymbopogon citrates thuộc gia đình Poaceae như lúa gạo, cây mía v.v. Tên thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Sả; Mao hương
Anh
Lemongrass; citronella
Pháp
Citronnelle
Tây Ban Nha
La Hierba de limon
Trung Hoa
Ningmeng cao (Ninh Mộng Thảo?)

Trong thức ăn của người Việt Nam có nhiều sả. Người ta dùng sả và bột nghệ để ướp cá, thịt, nấu bò kho, bún bò Huế vừa gia tăng hương vị vừa khử mùi tanh nếu có. Muối sả ớt được dùng để ăn cơm trong thôn quê trong thời kỳ thịt cá đắt đỏ. Người ta cũng xắc sả từng khoanh nhỏ và ngâm giấm để ăn thịt bò nhúng giấm.
Sả có nhiều tinh dầu, nhiều citral C10 H16 O (kháng trùng rất mạnh), myrcene, geraniol, citronella C10 H20 O, citronellal C10 H18 O đều có mùi chanh. Citronella còn có mùi thơm của hoa hồng. Ở Việt Nam khi bị cảm, sổ mũi, nhức đầu người ta nấu nước lá sả và các loại lá có tinh dầu hay mùi thơm như lá chanh, bưởi, ổi…để xông cho ra mồ hôi thì khỏi bịnh.
Sả lợi phế, lợi cho tiêu hóa, hưng phấn, sát trùng, gây phát hạn, trị lác, thấp khớp. Sả được dùng để giết loài ve (loài bọ) bám vào da trâu bò để hút máu. Côn trùng không hợp với mùi sả.
Dầu sả được dùng trong kỹ nghệ sản xuất xà bông và nước hoa. Dầu sảCymbopogon flexuosus ở Ấn Độ được dùng trong thức ăn. Dầu sả Cymbopogon martini ở Ấn Độ được dùng trong kỹ nghệ sản xuất nước hoa. Sả được cho vào trà, súp, và cà ri. Sả dùng để ướp cá, thịt kết hợp cùng muối, ớt, tiêu, hành, tỏi v.v.
Trong những năm gần đây Viện Đại Học Ben Gurion ở Do Thái phát hiện việc uống trà sả mỗi ngày chẳng những giúp cho sự tiêu hóa mà còn giết tế bào ung thư do tác dụng của citral. Những cánh đồng trồng sả trong sa mạc Neguev trở thành nơi thăm viếng của những người Do Thái bị bịnh ung thư!


TIÊU LỐT
Piper longum
Piper retrofractum
Chalice roxburghii
Gia đình: Piperaceae
Tiêu lốt là một loại dây mọc bám vào giàn hay một cây sống. Dây dài 3, 4 m. Lá màu xanh tươi, láng và có vị cay nồng khi vỡ nát. Trái dài lối 5- 6 cm. Khi chín trái có màu đỏ. Sau khi phơi khô trái chuyển sang màu đen.
Tiêu lốt gốc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Người Hy Lạp là người Âu Châu đầu tiên biết đến tiêu lốt qua sự tiếp xúc với Ấn Độ. Vào thế kỷ VI và V trước Tây Lịch thời Hippocrates, tổ ngành Tây Y, tiêu lốt được dùng làm thuốc hơn là hương liệu như sau này.
Tên khoa học của tiêu lốt là Piper longum tức hồ tiêu dài thuộc gia đình Piperaceae. Tên gọi thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
tiêu lốt
Anh
Long pepper, Indian long pepper, Javanese long pepper
Pháp
Poivre long
Ý
Pepe lungo
Tây Ban Nha
La Hierba de limon
Ấn Độ
Pipli
Sanskrit
Pippali rasayana
Indonesia
Cabe puyung

Tên gọi của người Anh, Pháp, Ý mô tả hình dạng dài và xuất xứ Ấn Độ hay Java (Indonesia) của dây tiêu lốt. Tên gọi bằng tiếng Sanskrit (Phạn) pippali rasayana gợi lại cây bồ đề thiêng Ficus religiosa nơi Đức Phật tọa thiền và đắc đạo.
Tiêu lốt tươi được dùng làm đồ chua, hương liệu nêm vào thức ăn. Công dụng của tiêu lốt trong thức ăn không phổ biến bằng tiêu sọ đen Piper nigrum. Nhưng công dụng trị liệu của tiêu lốt cao hơn tiêu sọ đen nhiều (dùng dây, rễ, trái).
Ở Việt Nam người ta ngâm tiêu lốt chín phơi khô với rượu nếp để dùng khi bị thổ tả, đau bụng, kiết ly, tiêu chảy, tê thấp.
Ở Trung Hoa tiêu lốt được dùng làm ấm tử cung phụ nữ khó đậu thai.
Ở Ấn Độ tiêu lốt có vẻ có công dụng đa dạng hơn. tiêu lốt được dùng để chữa các chứng bịnh về tiêu hóa, kích thích dịch vị, trị bịnh phong tình, lưỡi tê cóng, kiết lỵ, thổ tả, sốt rét kinh niên, viêm gan, sốt xuất huyết, bịnh về hô hấp (ho, ho lao, suyễn), tẩy độc trong phổi, bịnh về lá lách, thông ống dẫn mật, củng cố hệ thống miễn nhiễm.
Trái tiêu lốt có sesamine C20 H18 O6, piperine C17 H19 NO3
Rể dây tiêu lốt có piperlongumine, piperlonguminine.
Cọng tiêu lốt có alkaloids pipelrne, piperlongumine.
Dầu tiêu lốt có caryophyllene C15 H24, monocyclic sesquiterpenes, hydrocarbon.

 
HOA HẢI ĐĂNG 
Hoa Dừa Cạn
Hoa Bông Dừa
Trường Xuân Hoa
Vinca rosea
Catharanthus roseus
Gia đình: Apocynaceae
Tên gọi Dừa Cạn, Bông Dừa dành cho hoa Hải Đăng làm cho người tò mò tìm hiểu về tên gọi Hải Đăng. Hải Đằng hay Hải Đăng?
Nếu Đằng là dây (climbing plant) thì tên gọi này không có nghĩa vì hoa Dừa Cạn là một cây hoa nhỏ cao lối 50- 60 cm với nhiều nhánh mềm dễ gãy.
Hải Đăng (lighthouse) là đèn pha cho tàu chạy ngoài biển? Các thủy thủ đi biển ngày xưa thấy màu trắng, hồng hay đỏ của hoa Dừa Cạn thì biết nơi đó có đất hoặc hải đảo hoặc đất liền. Vì cây hoa Dừa Cạn này được xem là ngọn hải đăng thiên nhiên cho thủy thủ đi biển. Cây rất dễ sống với đất cát, đất miền duyên hải có nước biển mặn và khí hậu nóng bức và khô hạn.
Ở Việt Nam người ta thường trồng cây Dừa Cạn quanh các mồ mả để có hoa vì Dừa Cạn dễ sống, không cần nhiều ẩm độ. Cây Dừa Cạn là cây hoa thấp, có nhánh nhỏ; lá láng, dây màu xanh sẫm; hoa có 05 cánh màu trắng, trắng- hồng; tím nhạt; đỏ khá đẹp. Cây Dừa Cạn có trái với hột nhỏ.
Tên khoa học của Dừa Cạn hay Hải Đăng là Vinca rosea thuộc gia đình Apocynaceae.
Tên gọi thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Dừa Cạn; Bông Dừa; Hải Đăng
Anh
Rosy Periwinkle
Pháp
Sorcière Violette (nữ phù thủy tím)
Ấn Độ
Sadabahar
Mã Lai
Shaver Naari
Trung Hoa
Chang Chunhua (Trường Xuân Hoa)

Gia đình thảo mộc Apocynaceae thường có nhiều độc chất nên không ăn được nhưng bù lại những độc chất được dùng làm thuốc trị các nan chứng. Dân chúng ở Madagascar và trên quần đảo Antilles dùng cây hoa Hải Đăng để trị tiểu đường và vài chứng bịnh khác. Các nhà khảo cứu thí nghiệm không thấy cây hoa hải đăng trị được tiểu đường. Nhưng nó có nhiều alkaloids, vinblastine, vincristine, alstonine, ajmalicine, leucrocristine và reserpine. Những hoạt chất trên cho thấy hoa Hải Đăng có khả năng chữa bịnh bạch huyết cầu (leukemia), kháng ung thư phổi, ung thư bàng quang, ung thư não, ung thư ngoại thân, bịnh Hodgkin với viblastine C46 H58 N4 O9, Vincristine C46 H56 O10, leurocristine v.v. Bịnh Hodgkin là chứng nở rộng tuyến bạch huyết gây ra chứng sưng gan và lá lách.
Thảo mộc có nhiều độc chất được dùng để trị ác chứng. Nó cũng gây phản ứng phụ ghê gớm cho người bịnh. Phụ nữ mang thai không được dùng thuốc bào chế từ các loại thảo mộc có nhựa độc cho khuyển tộc (dogbane) thuộc dòng Apocynum.
 
CÂY NHÀU
Morinda officinalis
Morinda citrifolia
Gia đình: Rubiaceae
Cây nhàu cao từ 5- 10 m. Đó là một loài thảo mộc miền nhiệt đới và khí hậu đại dương, được tìm thấy nhiều ở Á Châu, các hải đảo Thái Bình Dương và miền bắc Úc Đại Lợi. Lá to, láng, màu xanh tươi. Lá có mùi chanh (citrifolia như tên khoa học đã định).
Tên khoa học của cây nhàu là Morinda citrifolia thuộc gia đình Rubiaceae. Tên gọi thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Nhàu
Anh
Indian mulberry (Indian: Ấn Độ)
Úc
Canary wood
Hawaii
Noni
Tahiti
Nono
Samoa
Nonu
Rể, lá, trái nhàu được dùng làm thuốc. Trái nhàu sống dùng để nấu cà ri. Trái nhàu là thức ăn chống đói của cư dân hải đảo. Trái nhàu chín có mùi khó chịu nhưng ăn được và dùng để làm nước giải khát và làm thuốc.
Y thư Trung Hoa dưới triều Hán (206 trước Tây Lịch- 23 sau Tây Lịch) đã đề cập đến nhàu.
Trái dùng để trị kiết lỵ, tiêu chảy, xuất huyết, hạ sốt, hượt trường.
Lá dùng để trị ho, đau khớp xương, rắn cắn.
Rễ cây nhàu có vai trò quan trọng trong y học trị liệu. Rễ nhàu + cam thảo Glycyrrhiza uralensis dùng để khử độc chất trong cơ thể.
Vỏ là thuốc nhuộm màu hung đỏ- tím.
Nhàu có sinh tố C, moridone, rubichloric acid, morindadiol, sitosterol kháng trùng, hạ huyết áp, kích dục, kích thích thận (kidneys), trị ho lao, bất lực sinh lý, ẩn ức sinh lý (libido), lãnh dục (frigidity), vô tự (sterility), hạ sốt, hượt trường, hoàng đản, sốt rét, đau đầu gối, đau chân, bắp thịt teo, bao tử loét, đường tiểu nhiễm trùng.


RAU MÁ
Tích Tuyết Thảo
Centella asiatica
Hydrocotyle asiatica
Trisanthus cochinchinensis
Gia đình: Apiaceae hay Typhaceae
Rau má là một loại cỏ thân nhỏ, mọc mạnh ở những vùng có ẩm độ cao. Cọng nhỏ, dẻo và cứng bám trên mặt đất. Lá rau má tròn, màu xanh tươi. Hoa nhỏ màu hồng nhạt, lưỡng tính. Rau má được tìm thấy nhiều ở những nơi ẩm thấp trên thế giới nhất là vùng nhiệt đới và khí hậu đại dương.
Tên khoa học của rau má là Centella asiatica thuộc gia đình Apiaceae. Tên gọi thông thường là:
Quốc Gia
Tên Gọi
Việt Nam
Rau má; Tích tuyết thảo
Anh
Asiatic pennywort; Gotu Kola
Pháp
Centella asiatique; Gotu kola
Ấn Độ
Brahmi
Mã Lai
Shaver Naari
Trung Hoa
Ji xue cao (Tích tuyết thảo)

Người Ấn Độ gọi rau má là Brahmi, nữ Thần của sự Thông Minh, vì rau má và rau đắng (cũng được gọi là Brahmi) Bacopa monnieri, có dược tính làm tăng trí nhớ, bổ não và làm giảm sự lo âu.
Người Á Châu và cư dân hải đảo Thái Bình Dương ăn lá rau má như rau cải hay dùng lá rau má để nấu canh. Người Trung Hoa dùng rau má + lá mã đề + rễ tranh + mía lau để nấu một loại nước giải khát làm mát cơ thể. Người Việt Nam gọi đó là nước sâm. Rau má hàn. Vào mùa hè người ta nghiền nát rau má vắt nước làm nước giải khát sau khi cho đường và chút đá lạnh.
Y học cổ truyền Ấn Độ và Trung Hoa quan tâm đến tính năng trị liệu của rau má từ lâu. Rau má có asiaticoside (triterpene glycoside), brahmoside, brahminoside, madecassoside (kháng viêm) madecassic acid C30 H48 O6 (kháng viêm), asiatic acidC30 H48 O5 (trị cước khí, mệt mỏi, triển vọng có thể trị bướu não), sinh tố K v.v.Asiacoside C48 H78 O19 có khả năng trị bịnh lao (TB) và bịnh Alzheimer.
Rau má nhuận tiểu, làm lành vết thương, trị cao huyết áp, ho lao, suyễn, bịnh về gan, thận, nhiễm trùng đường tiểu, nước tiểu có sạn, giải độc và trị cả bịnh hủi nữa (kinh nghiệm trị liệu cổ truyền ở Ấn Độ). Steroids của rau má (trong cọng rau má) được dùng để chữa phong hủi.
Cổ y Trung Hoa cho rằng rau má là một trong các thảo mộc giúp con người trường thọ. Người ta cho rằng Li Ching Yun (Lý Thanh Vân) (1677- 1933) sống 256 tuổi nhờ dùng rau má. Tuổi thọ 256 năm làm cho các nhà y học hoài nghi vì nó trên 200% tuổi thọ cao nhất thế giới!! Dù vậy cũng nên để ý đến bí quyết trường thọ của Li Ching Yun được tóm lược như sau:
1. giữ cho TÂM được yên tịnh
2. ngồi như RÙA
3. đi như BỒ CÂU
4. ngủ như CHÓ
Các loại thảo mộc giúp cho loài người trường thọ là:
a. nấm linh chi Ganoderma lucidum mà người Nhật gọi là Reiishi hay Mannentake         
     nghĩa là ‘nấm 10,000 năm’.
b. sâm rừng Panax ginseng
c. hà thủ ô Polygonum multiform (Hà Thủ Ô: Đầu Đen của Ông Hà)
d. rau má Centella asiatica
****
           Con người có nhiều tiến bộ từ thế kỷ XIX đến nay. Bịnh tật bị đẩy lùi nhưng không phải hoàn toàn bị diệt. Thuốc có mạnh, vi trùng có thua trận nhưng chúng cũng tìm cách sinh tồn và hiện hữu phù hợp với câu: Vỏ quít dày, móng tay nhọn. Bịnh lao có thuốc trị nhưng không phải hoàn toàn không còn nữa. Vi trùng là kẻ thù đáng sợ. Thuốc mạnh trị vi trùng như võ khí hóa học độc hại giết vi trùng hàng loạt. Thân thể con người như bãi chiến trường bị tàn phá nặng nề sau khi võ khí hóa học tàn sát vi trùng tàn độc. Đó là chiến tranh trong thân thể con người. Có cách nào tránh chiến tranh nghĩa là tránh sự giao tranh giữa vi trùng và thuốc cực mạnh lấy thân thể con người làm bãi chiến trường không?- Có. Thứ nhất: đừng để kẻ thù (vi trùng) xâm nhập vào cơ thể bằng cách gìn giữ vệ sinh, tránh sự lạm dụng tửu, sắc và các chất ma túy; giữ quân bình giữa dinh dưỡng- giấc ngủ- lao lực. Thứ hai: không dùng võ lực thì dùng ngoại giao, thương thuyết qua trung gian ông thầy thuốc là bổ thuốc nhuận tiểu, nhuận trường để tống khứ độc chất trong cơ thể. Còn vi trùng thì sao? - Thầy thuốc là bó tay. Các thầy lang ngày xưa biết bịnh ban cua (typhoid) do vi trùng có ngoe, càng như con cua gây ra. Nhưng họ không có cách chi diệt chúng nên số tử vong của người bị bịnh vi trùng rất cao. Cuối cùng đành phải chấp nhận chiến tranh giữa thuốc mạnh và vi trùng mặc cho sự tàn phá trên bãi chiến trường (cơ thể người bịnh).
Đến cuối cuộc đời con người không còn cách gì hơn là chấp nhận Định Số, sự An Bài với định luật bất biến về Phát Sinh, Phát Triển và Suy Tàn.
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
Bài viết tổng hợp dựa vào Thế Giới Thảo Mộc Tự Điển do Phạm Đình Lân biên soạn.


 

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

THAO MOC TRI HO LAO TREN THE GIOI PHAM DINH LAN, F.A.B.I.


THAO MOC TRI HO LAO TREN THE GIOI

PHAM DINH LAN, F.A.B.I.

          Binh ho lao (TB: Tuberculosis) la mot binh gay tu vong rat nhieu o cac quoc gia ngheo dang mo mang.  Ngay xua  ho lao nam trong ‘tu chung nan y’ trong Dong Y.  Tu chung nan y la bon (04) loai binh khong chua duoc trong nganh Dong Y.  Thuc te Tay Y  cung co cai nhin tuong tu du khong thang than noi rang do la nhung binh khong the chua tri noi.  Tu chung nan y do la: 
Phong, Lao, Co, Lai. 
Phong la binh ve di ung (allergy)
Lao la ho lao (tuberculosis)
Co la co truong (Cirrhosis- Co: cai trong vi gan nguoi binh bi ton thuong.  Dai, tieu tien
          bat thong.  Bung to len nhu cai trong)
Lai: phong hui (leprosy).
          Binh lao la binh do vi trung Mycobacterium tuberculosis (MTB) duoc biet van tat la vi trung Koch vi duoc ong Robert Koch (1843- 1910), mot bac si va nha vi trung hoc nguoi Duc, kham pha ngay 24 thang 03 nam 1882.  Nam 1905 ong Koch duoc lanh giai thuong Nobel ve Y hoc.  Ong che ra glycerine goi la tuberculin de tri binh lao.  Ngay nay nguoi ta lay ngay 24 thang 03 lam ngay Le Binh Lao.
          Nam 1906 bac si va nha vi trung hoc Phap Albert Calmette (1863- 1933) va Camille Guerin (1872-  1961) dung vi trung lao cua bo Mycobacterium bovis lam mot loai thuoc chich tri binh lao .  Do la BCG chu viet tat cua Bacillus Calmette- Guerin.  Vi trung Mycobacterium bovis gay binh lao nhu vi trung Mycobacterium tuberculosis neu an thit bo song cua con bo bi nhiem vi trung lao.  Co phai chang cau ‘Do nhu phoi bo’  la mot loi canh giac ve binh lao  truyen nhiem tu bo sang nguoi vi bo lao luc nhieu nen de bi nhiem trung lao phoi?
          Binh lao duoc xem la binh cua ngheo kho, lao luc nhieu nhung thieu dinh duong.  No cung xay ra do song gan gui nguoi bi binh.  Nguoi khong binh hit khong khi cua nguoi binh nhiem trung lao va bi binh lao.  Binh lao cung duoc tim thay noi nhung nguoi bi nhiem HIV. 
          Tu the ky XVI den dau the ky XX binh lao gay tu vong cho nhieu nguoi tren the gioi ke ca Hoa Ky.  Den giua the ky XX o Au My  ty le nguoi bi binh lao giam xuong 90%.  Nam 1943 mot sinh vien tien si Hoa Ky ten Albert Israel Schalz (1920- 2005) kham pha ra  tru sinh Streptomycin C21 H39 N7 O12.  Viec chua tri binh lao dat ket qua my man.  So tu vong ve binh nay giam xuong ro ret.  Du vay, theo thong ke nam 2012, tren the gioi van co 8.6 trieu nguoi bi binh lao nhat la o cac quoc gia A-Phi- Chau My La Tinh dang phat trien.  Hang nam co tu 1.4 den 1.5 trieu nguoi chet vi binh nay tren the gioi.
          Bai viet nay khong co muc dich chi thuoc tri hay ngua lao ma chi ghi lai nhung loai thao moc ma loai nguoi dung trong qua khu xa xua de tri binh lao.  So tu vong to lon cua nhung nguoi mac binh lao trong qua khu cho thay hieu qua tuong doi cua nhung loai thao moc ma chung toi sap de cap.
****
          Theo kinh nghiem tri lieu co truyen cua cac dan toc tren the gioi khi bi binh lao, co hang chuc loai thao moc khac nhau dung de tri binh nay.  Cac loai thao moc dung de tri binh lao (TB: tuberculosis) dai cuong gom co:  Cay qua hach Malabar, cay thuoc gioi, sa, tieu lot, cay nhau, hoa bong dua (hai dang), rau ma v.v.
CAY QUA HACH MALABAR
Adhatoda vasica
Justicia adhatoda
Gia dinh:  Acanthaceae  
          Malabar la mien duyen hai phia tay cua nuoc An Do.  Cay qua hach Malabar duoc tim thay nhieu o Malabar, An Do, Nepal, Pakistan, Indonesia.
          Cay qua mach Malabar cao loi 3 m.  La cay mau xanh sam, dai va rong.  Gan la chim, sap theo hinh xuong ca.  Hoa dai loi 40 cm, mau trang co chi hong rat dep.  Cay thich hop voi dat co nuoc.  Vi vay nguoi Anh goi la water willow tuc  thuy lieu nhung dung nham voi thuy lieu la ten goi van ve cua cay ban.  Go cay qua hach Malabar mem.  Dot thanh than dung lam thuoc sung.  Trai co nap va co 04 hot.
          Ten khoa hoc cua cay qua hach Malabar la Justicia adhatoda thuoc gia dinh Acanthaceae.  Ten goi thong thuong:
Quoc Gia                         Ten Goi
Anh                                  Malabar nut tree, water willow
An Do (Hindi)                    Adulasa
Sanskrit (Phan)                 Vasaka
          Y thu Ayurveda cua An Do de cao nhieu den tinh nang tri lieu cua cay qua hach Malabar.  La, re, hoa va vo cay qua hach Malabar duoc dung lam thuoc tri ho, suyen, ho lao, xuat huyet noi, phong hui, tri, kinh nguyet, loet da day, nuou rang ruom mau, thanh loc mau, tieu duong, ha huyet ap, truc trung lai, lam cho phu nu mang thai de sinh vi kich thich tu cung.
          Thanh phan hoa hoc: quinazoline alkaloid C8 H6 N2, vasicine C11 H12 N2 O, adhatodinine, asicinol, tannins, saponins, flavonoids, hop chat phenol.
          Quinazoline alkaloid C8 H6 N2 chong sot ret, chong ung thu, chong trung lao.
          Vasicine C11 H12 N2 O kich thich he thong ho hap va tu cung.
CAY THUOC GIOI
Sat Trung Thao
Cay Bo Mam
Pouzolzia zeylanica
Pouzolzia cochinchinensis
Parietaria cochinchinensis
Gia dinh:  Urticaceae
          Co hai loai thao moc mang ten cay thuoc gioi.  Truoc tien chung toi de cap den cay thuoc gioi Pouzolzia zeylanica hay P. cochinchinensis thuoc gia dinh Urticaceae ma nguoi Viet Nam con goi la cay bo mam hay sat trung thao.  Nhung chu Zeylanica va Cochinchinensis trong ten khoa hoc chi xuat xu Sri Lanka (dao Ceylon) va Nam Bo Viet Nam. 
          Cay thuoc gioi duoc tim thay nhieu o vung Dong Nam A, Nam A, Hoa Nam, bac Uc Dai Loi v.v.  Do la mot cay co than mem, co long.  La nhon mau xanh tuoi.  Gan la chim.  Ba gan la chim xuat phat tu cuong la.  Hoa nho mau trang.  
          Ten khoa hoc la Pouzolzia cochinchinensis thuoc gia dinh Urticaceae.  Ten goi thong thuong la:
Quoc Gia                         Ten Goi
Viet Nam                          Cay thuoc gioi, sat trung thao, cay bo mam
Phi Luat Tan                               tuia, apoyapoyan
Anh                                  graceful Pouzol’s bush
Trung Hoa                        wu shui ge
Tamil                                Kallurukki
Nguoi Viet Nam goi la cay bo mam hay thuoc gioi vi nguoi ta dung la cay nay day mam de lam chet gioi, bo trong mam tom, mam nem.  Vi la cay co the lam chet gioi thi nguoi ta tin no co the lam chet vi trung lao trong phoi con nguoi.
          Cay thuoc gioi co quercetin, vitexin, isovitexin, phyllantin, metyl stearate, beta- sistosterol-3- beta- D- glucopyranoside. 
          Vitexin C21 H20 O10 va Isovitexin (cung cong thuc hoa hoc) co kha nang diet trung Staphyloccus aureus, Escherichia coli va Streptoccus haemolyticus.  Vitexin co trong cay thuoc gioi, la tre hoa Ky, hoa lac tien (chum bao), cay co bap cai nui acai palm.
          Phyllantin C24 H34 O6 co tinh nang bao ve gan.
          Cay thuoc gioi duoc dung de tri ho, ho lao, dau cuong hong.  No nhuan tieu, nhuan truong.  O Phi Luat Tan nguoi ta dung cay thuoc gioi de tri vet thuong va vet loet.
CAY THUOC GIOI DONG EUPHORBIACEAE 
          Euphorbia dulcis
Euphorbia atoto
Chamaesye atoto
Gia dinh:  Euphorbiaceae
          Cay thuoc gioi dong Euphorbiaceae duoc tim thay nhieu doc theo bo bien Phi Luat Tan, Viet Nam, cac hai dao Thai Binh Duong, An Do Duong, Uc Dai Loi.
          Cay cao loi 60- 70cm , co nhieu nhanh nho mau xanh tuoi.  La xanh, moc thanh hinh ngoi sao 05 canh rat dep.  Hoa mau trang- xanh moc thanh chum trong dep mat.  Co loai la mau tim, lang; hoa vang.  Do la loai Euphorbia dulcis ‘Chameleon’ (Cac Ke).
          Ten khoa hoc cua cay thuoc gioi dai kich lanh (sweet spurge) la Euphorbia dulcis, gia dinh:  Euphorbiaceae.  Ten goi thong thuong cua cay Euphorbia dulcis:
Quoc Gia                                   Ten Goi
Viet Nam                                    Cay thuoc Gioi; dai kich lanh
Phi Luat Tan                               Tairas
Anh                                            beach spurge (spurge: lai kich); sweet spurge
Trung Hoa                                  Haibin da ji.
          La gia nhuyen vat nuoc va nhua cay  dung de lam thuoc tri kinh nguyet, gay truy thai, tri ho lao va tao bon (Phi Luat Tan, New Caledonia, hai dao Thai Binh Duong…).  Dat la tren mam de tranh hoa gioi.
SA
Mao Huong
Cymbopogon citrates
Cymbopogon nardus
Gia dinh:  Poaceae
          Sa (mao huong) la mot loai thao moc mien nhiet doi A Chau trong tung tep va no bui to; la dai, mong va ben.  Sa co mui thom cua chanh.  Do la mot loai cay gia vi rat quen thuoc o cac quoc gia nhiet doi va ban nhiet doi.  Bui sa cao tu 1- 1.50 m, khong hoa, khong trai.
          Ten khoa hoc cua Sa la Cymbopogon citrates thuoc gia dinh Poaceae nhu lua gao, cay mia v.v.  Ten thong thuong la:
Quoc Gia                                   Ten Goi
Viet Nam                                    Sa; Mao huong
Trung Hoa                                  Ningmeng cao (Ninh Mong Thao?)
Anh                                            Lemongrass; citronella
Phap                                          Citronnelle
Tay Ban Nha                               La Hierba de limon
          Trong thuc an cua nguoi Viet Nam co nhieu sa.  Nguoi ta dung sa va bot nghe de uop ca, thit, nau bo kho, bun bo Hue vua gia tang huong vi vua khu mui tanh neu co.  Muoi sa ot duoc dung de an com trong thon que trong thoi ky thit ca dat do.  Nguoi ta cung xac sa tung khoanh nho va ngam giam de an thit bo nhung giam.
          Sa co nhieu tinh dau, nhieu citral C10 H16 O (khang trung rat manh), myrcene, geraniol, citronella C10 H20 O, citronellal C10 H18 O deu co mui chanh.  Citronella con co mui thom cua hoa hong.  O Viet Nam khi bi cam, so mui, nhuc dau nguoi ta nau nuoc la sa va cac loai la co tinh dau hay mui thom nhu la chanh, buoi, oi…de xong cho ra mo hoi thi khoi binh. 
          Sa loi phe, loi cho tieu hoa, hung phan, sat trung, gay phat han, tri lac, thap khop.  Sa duoc dung de giet loai ve (loai bo) bam vao da trau bo de hut mau.  Con trung khong hop voi mui sa.
          Dau sa duoc dung trong ky nghe san xuat xa bong va nuoc hoa.  Dau sa Cymbopogon flexuosus o An Do duoc dung trong thuc an.  Dau sa Cymbopogon martini o An Do duoc dung trong ky nghe san xuat nuoc hoa.  Sa duoc cho vao tra, sup, va ca ri.  Sa dung de uop ca, thit ket hop cung muoi, ot, tieu, hanh, toi v.v.
          Trong nhung nam gan day Vien Dai Hoc Ben Gurion o Do Thai phat hien viec uong tra sa moi ngay chang nhung giup cho su tieu hoa ma con giet te bao ung thu do tac dung cua citral.  Nhung canh dong trong sa trong sa mac Neguev tro thanh noi tham vieng cua nhung nguoi Do Thai bi binh ung thu!
TIEU LOT
Piper longum
Piper retrofractum
Chalice roxburghii
Gia dinh:  Piperaceae
          Tieu lot la mot loai day moc bam vao gian hay mot cay song.  Day dai 3, 4 m.  La mau xanh tuoi, lang va co vi cay nong khi vo nat.  Trai dai loi 5- 6 cm.  Khi chin trai co mau do.  Sau khi phoi kho trai chuyen sang mau den.  
          Tieu lot goc o An Do va cac nuoc Dong Nam A.  Nguoi Hy Lap la nguoi Au Chau dau tien biet den tieu lot qua su tiep xuc voi An Do.  Vao the ky VI va V truoc Tay Lich thoi Hippocrates, to nganh Tay Y, tieu lot duoc dung lam thuoc hon la huong lieu nhu sau nay.
          Ten khoa hoc cua tieu lot la Piper longum tuc ho tieu dai thuoc gia dinh Piperaceae.  Ten goi thong thuong la:
Quoc Gia                                   Ten Goi
Viet Nam                                    Tieu lot
Anh                                            Long pepper, Indian long pepper, Javanese long
                                                  pepper.
An Do                                         Pipli
Sanskrit                                      Pippali rasayana
Indonesia                                    Cabe puyung
Phap                                          Poivre long
Y                                                Pepe lungo
          Ten goi cua nguoi Anh, Phap, Y mo ta hinh dang dai (dai) va xuat xu An Do hay Java (Indonesia) cua day tieu lot.  Ten goi bang tieng Sanskrit (Phan) pippali rasayana goi lai cay bo de thieng Ficus religiosa noi Duc Phat toa thien va dac dao. 
          Tieu lot tuoi duoc dung lam do chua, huong lieu nem vao thuc an.  Cong dung cua tieu lot trong thuc an khong pho bien bang tieu so den Piper nigrum.  Nhung cong dung tri lieu cua tieu lot cao hon tieu so den nhieu (dung day, re, trai).
          O Viet Nam nguoi ta ngam tieu lot chin phoi kho voi ruou nep de dung khi bi tho ta, dau bung, kiet ly, tieu chay, te thap.
          O Trung Hoa tieu lot duoc dung lam am tu cung phu nu kho dau thai.
          O An Do tieu lop co ve co cong dung da dang hon.  Tieu lot duoc dung de chua cac chung binh ve tieu hoa, kich thich dich vi, tri binh phong tinh, luoi te cong, kiet ly, tho ta, sot ret kinh nien, viem gan, sot xuat huyet, binh ve ho hap (ho, ho lao, suyen), tay doc trong phoi, binh ve la lach, thong ong dan mat, cung co he thong mien nhiem.
          Trai tieu lot co sesamine C20 H18 O6, piperine C17 H19 NO3
          Re day tieu lot co piperlongumine, piperlonguminine.
          Cong tieu lot co alkaloids pipelrne, piperlongumine.
          Dau tieu lot co caryophyllene C15 H24, monocyclic sesquiterpenes, hydrocarbon.
HOA HAI DANG     
Hoa Dua Can
Hoa Bong Dua
Truong Xuan Hoa
Vinca rosea
Catharanthus roseus
Gia dinh:  Apocynaceae
Ten goi Dua Can, Bong Dua  danh cho hoa Hai Dang lam cho nguoi to mo tim hieu ve ten gol Hai Dang.  Hai Dang hay Hai Dang? 
          Neu Dang la day (climbing plant) thi ten goi nay khong co nghia vi hoa Dua Can la mot cay hoa nho cao loi 50- 60 cm voi nhieu nhanh mem de gay.
          Hai Dang (lighthouse) la den pha cho tau chay ngoai bien?  Cac thuy thu di bien ngay xua  thay mau trang, hong hay do cua hoa Dua Can thi biet noi do co dat hoac hai dao hoac dat lien.  Vi cay hoa Dua Can nay duoc xem la ngon hai dang thien nhien cho thuy thu di bien.  Cay rat de song voi dat cat, dat mien duyen hai co nuoc bien man va khi hau nong buc va kho han.
          O Viet Nam nguoi ta thuong trong cay dua can quanh cac mo ma de co hoa vi dua can de song, khong can nhieu am do.  Cay dua can la cay hoa thap, co nhanh nho; la lang, day mau xanh sam; hoa co 05 canh mau trang, trang- hong; tim nhat; do kha dep.  Cay dua can co trai voi hot nho.
          Ten khoa hoc cua dua can hay hai dang la Vinca rosea thuoc gia dinh Apocynaceae.  Ten goi thong thuong la:
Quoc Gia                                   Ten Goi
Viet Nam                                    Dua can; Bong dua; Hai dang
Anh                                            Rosy periwinkle
Phap                                          Sorciere violette (nu phu thuy tim)
An Do                                         Sadabahar
Ma Lai                                        Shaver Naari
Trung Hoa                                  Chang chunhua       (Truong xuan hoa)
          Gia dinh thao moc Apocynaceae thuong co nhieu doc chat nen khong an duoc nhung bu lai  nhung doc chat duoc dung lam thuoc tri cac nan chung.  Dan chung o Madagascar va tren quan dao Antilles dung cay hoa hai dang de tri tieu duong va vai chung binh khac.  Cac nha khao cuu thi nghiem khong thay cay hoa hai dang tri duoc tieu duong.  Nhung no co nhieu alkaloids, vinblastine, vincristine, alstonine, ajmalicine, leucrocristine va reserpine.           Nhung hoat chat tren cho thay hoa hai dang co kha nang chua binh bach huyet cau (leukemia), khang ung thu phoi, ung thu bang quang, ung thu nao, ung thu ngoai than, binh Hodgkin voi viblastine C46 H58 N4 O9, Vincristine C46 H56 O10, leurocristine v.v.  Binh Hodgkin la chung no rong tuyen bach huyet gay ra chung sung gan va la lach.
          Thao moc co nhieu doc chat duoc dung de tri ac chung.  No cung gay phan ung phu ghe gom cho nguoi binh.  Phu nu mang thai khong duoc dung thuoc bao che tu cac loai thao moc co nhua doc cho khuyen toc (dogbane) thuoc dong Apocynum.
CAY NHAU
Morinda officinalis
Morinda citrifolia
Gia dinh:  Rubiaceae
          Cay nhau cao tu 5- 10 m.  Do la mot loai thao moc mien nhiet doi va khi hau dai duong, duoc tim thay nhieu o A Chau, cac hai dao Thai Binh Duong va mien bac Uc Dai Loi.  La to, lang, mau xanh tuoi.  La co mui chanh (citrifolia nhu ten khoa hoc da dinh).
          Ten khoa hoc cua cay nhau la Morinda citrifolia thuoc gia dinh Rubiaceae.  Ten goi thong thuong la:
Quoc Gia                                   Ten Goi
Hawaii                              Noni
Tahiti                                          Nono
Samoa                                        Nonu
Anh                                            Indian mulberry (Indian: An Do)
Uc                                              Canary wood
          Re, la, trai nhau duoc dung lam thuoc.  Trai nhau song dung de nau ca ri.  Trai nhau la thuc an chong doi cua cu dan hai dao.  Trai nhau chin co mui kho chiu nhung an duoc va dung de lam nuoc giai khat va lam thuoc.
          Y thu Trung Hoa duoi trieu Han (206 truoc Tay Lich- 23 sau Tay Lich) da de cap den nhau.
          Trai dung de tri kiet ly, tieu chay, xuat huyet, ha sot, huot truong.
          La dung de tri ho, dau khop xuong, ran can.
          Re cay nhau co vai tro quan trong trong y hoc tri lieu.  Re nhau + cam thao Glycyrrhiza uralensis dung de khu doc chat trong co the.
          Vo la thuoc nhuom mau hung do- tim.
          Nhau co sinh to C, moridone, rubichloric acid, morindadiol, sitosterol khang trung, ha huyet ap, kich duc, kich thich than (kidneys), tri ho lao, bat luc sinh ly, an uc sinh ly (libido), lanh duc (frigidity), vo tu (sterility), ha sot, huot truong, hoang dan, sot ret, dau dau goi, dau chan, bap thit teo, bao tu loet, duong tieu nhiem trung.
RAU MA
Tich Tuyet Thao
Centella asiatica
Hydrocotyle asiatica
Trisanthus cochinchinensis
Gia dinh:  Apiaceae hay Typhaceae
          Rau ma la mot loai co than nho, moc manh o nhung vung co am do cao.  Cong nho, deo va cung bam tren mat dat.  La rau ma tron, mau xanh tuoi.  Hoa  nho mau hong nhat, luong tinh.  Rau ma duoc tim thay nhieu o nhung noi am thap tren the gioi nhat la vung nhiet doi va khi hau dai duong.
          Ten khoa hoc cua rau ma la Centella asiatica thuoc gia dinh Apiaceae.  Ten goi thong thuong la:
Quoc Gia                         Ten Goi
Viet Nam                          Rau ma; Tich tuyet thao
Anh                                  Asiatic pennywort; Gotu Kola
An Do                               Brahmi
Trung Hoa                        Ji xue cao (Tich tuyet thao)
Phap                                Centella asiatique; Gotu kola
          Nguoi An Do goi rau ma la Brahmi, nu Than cua su Thong Minh, vi rau ma va rau dang (cung duoc goi la Brahmi) Bacopa monnieri, co duoc tinh lam tang tri nho, bo nao va lam giam su lo au.
          Nguoi A Chau va cu dan hai dao Thai Binh Duong an la rau ma nhu rau cai hay dung la rau ma de nau canh.  Nguoi Trung Hoa dung rau ma + la ma de + re trans + mia lau de nau mot loai nuoc giai khat lam mat co the.  Nguoi Viet Nam goi do la nuoc sam.  Rau ma  han.  Vao mua he nguoi ta nghien nat rau ma vat nuoc lam nuoc giai khat sau khi cho duong va chut da lanh.
          Y hoc co truyen An Do va Trung Hoa quan tam den tinh nang tri lieu cua rau ma tu lau.  Rau ma co asiaticoside (triterpene glycoside), brahmoside, brahminoside, madecassoside (khang viem) madecassic acid C30 H48 O6 (khang viem), asiatic acid C30 H48 O5 (tri cuoc khi, met moi, trien vong co the tri buou nao), sinh to K v.v.  Asiacoside C48 H78 O19 co kha nang tri binh lao (TB) va binh Alzheimer.
          Rau ma nhuan tieu, lam lanh vet thuong, tri cao huyet ap, ho lao, suyen, binh ve gan, than, nhiem trung duong tieu, nuoc tieu co san, giai doc va tri ca binh hui nua (kinh nghiem tri lieu co truyen o An Do).  Steroids cua rau ma (trong cong rau ma) duoc dung de chua phong hui.
          Co y Trung Hoa cho rang rau ma la mot trong cac thao moc giup con nguoi truong tho.  Nguoi ta cho rang Li Ching Yun (Ly Thanh Van) (1677- 1933) song 256 tuoi nho dung rau ma.  Tuoi tho 256 nam lam cho cac nha y hoc hoai nghi vi no tren 200% tuoi tho cao nhat the gioi!!  Du vay cung nen de y den bi quyet truong tho cua Li Ching Yun duoc tom luoc nhu sau:
1.      giu cho TAM duoc yen tinh
2.      ngoi nhu RUA
3.      di nhu BO CAU
4.      ngu nhu CHO
          Cac loai thao moc giup cho loai nguoi truong tho la:
a.      nam linh chi Ganoderma lucidum ma nguoi Nhat goi la Reiishi hay Mannentake nghia la ‘nam 10,000 nam’.
b.      sam rung Panax ginseng
c.      ha thu o Polygonum multiform (Ha Thu O: Dau Den cua Ong Ha)
d.      rau ma Centella asiatica        
          ****
          Con nguoi co nhieu tien bo tu the ky XIX den nay.  Binh tat bi day lui nhung khong phai hoan toan bi diet.  Thuoc co manh, vi trung co thua tran nhung chung cung tim cach sinh ton va hien huu phu hop voi cau:  Vo quit day, mong tay nhon.  Binh lao co thuoc tri nhung khong phai hoan toan khong con nua.  Vi trung la ke thu dang so.  Thuoc manh tri vi trung nhu vo khi hoa hoc doc hai giet vi trung hang loat.  Than the con nguoi nhu bai chien truong bi tan pha nang ne sau khi vo khi hoa hoc tan sat vi trung tan doc.  Do la chien tranh trong than the con nguoi.  Co cach nao tranh chien tranh nghia la tranh su giao tranh giua vi trung va thuoc cuc manh lay than the con nguoi lam bai chien truong khong?- Co.  Thu nhat:  dung de ‘ke thu’ (vi trung) xam nhap vao co the bang cach gin giu ve sinh, tranh  su lam dung tuu, sac va cac chat ma tuy; giu quan binh giua dinh duong- giac ngu- lao luc.  Thu hai:  khong dung vo luc thi dung ngoai giao, thuong thuyet qua trung gian ong thay thuoc la bo thuoc nhuan tieu, nhuan truong de tong khu doc chat trong co the.  Con vi trung thi sao? - Thay thuoc la bo tay.  Cac thay lang ngay xua biet binh ban cua (typhoid) do vi trung co ngoe, cang nhu con cua gay ra.  Nhung ho khong co cach chi diet chung nen so tu vong cua nguoi bi binh vi trung rat cao.  Cuoi cung danh phai chap nhan chien tranh giua thuoc manh va vi trung mac cho su tan pha  tren bai chien truong (co the nguoi binh). 
          Den cuoi cuoc doi con nguoi khong con cach gi hon la chap nhan Dinh So, su An Bai voi dinh luat bat bien ve Phat Sinh, Phat Trien va Suy Tan.

Bai viet tong hop dua vao The Gioi Thao Moc Tu Dien do Pham Dinh Lan bien soan.