Bài đăng nổi bật

Nghe 100 Truyện ngắn của Tràm Cà Mau

  Nghe 100 Truyen Ngan Cua Tram Ca Mau ( Tac gia không giữ bản quyền.) bấm mỗi dòng dưới đây để nghe một truyện: Tuoi Gia La Tuoi Sung Suong...

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

LÀM CHA - PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I. Vài Chuyện Quanh Ta LÀM CHA

 Happy Father’s Day
Men goi cac em bai viet ve Fatherhood nhan ngay Father's Day.
Van Su Lanh
Thay Lan
phamdinhlan (david)






From: David Pham <davidlanpham@me.com>
Sent: Friday, June 16, 2017 2:34 PM
To: David Pham
Subject: pham dinh lan - lam cha


pham dinh lan - lam cha

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
Vài Chuyện Quanh Ta
LÀM CHA
Tre và Măng
            Ai đã lập gia đình đều có cơ hội làm cha và mẹ.  Cha mẹ nào cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm tối thiểu đối với con cái mình: nuôi nấng và giáo dục.  Dù vậy không phải bức tranh phụ mẫu nào trên đời này cũng đều giống nhau.  Thuật làm cha mẹ tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội, kinh tế, trình độ văn hóa, sở thích và ước vọng của đấng sinh thành, truyền thống gia đình.  Con người dù xấu xa cách mấy cũng hướng về Chân, Thiện, Mỹ.  Do vậy không có con người ăn cướp nào được người cha ăn cướp dạy thuật ăn cướp cả.  Trái lại, người cha nào trên mặt đất này cũng muốn ‘ Con hơn cha, nhà có phúc ‘.  Trong những trang giấy ngắn này tôi xin ghi lại vài thiếu sót trong nhiệm vụ làm cha của bản thân tôi để chia sẻ tâm tình với các con tôi, những thân thuộc, thân hữu và người đọc bài viết nầy nhân ngày Father’s Day.
****
            Tôi là một thầy giáo được làm cha từ năm 26 tuổi.  Tôi có 05 con tuần tự ra đời khi vợ chồng chúng tôi ở vào tuổi 30.  Các con của tôi đều được tôi đặt tên trước cho cả trai lẫn gái như là một thông điệp gởi gắm vào các con. 
  
            Là một thầy giáo dạy trường công và nhiều trường tư thục đủ các tôn giáo ở Sài Gòn, Gia Định và Bình Dương đời sống gia đình không đến nỗi thiếu thốn chật vật.  Các con tôi được nuôi dưỡng chu đáo về phương diện vật chất.  Tôi tiếp nối đường lối giáo dục con cái của cha tôi với một vài sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời.  Tôi giáo dục con rất nghiêm nhưng không quá khắt khe nhất là hướng dẫn và giáo dục đứa con đầu lòng.  Đó là đứa con được gần gũi tôi nhiều hơn cả.  Đứa con trưởng là đứa con được cha mẹ thương yêu và được hưởng nhiều ân huệ hơn các em.  Dưới chế độ quân chủ chỉ người con trưởng mới được quyền nối ngôi vua cha nếu không bị khuyết tật hay phạm trọng tội trong hoàng tộc.   Trong xã hội Khổng Giáo người con trai trưởng được hưởng phần gia tài của cha mẹ để lại với các em.  Ngoài phần phân chia này người con trưởng còn được hưởng phần đất hương hỏa để có hoa lợi hầu lo việc cúng kiến, giỗ chạp cho ông bà, cha mẹ.
           Theo gương giáo dục của cha tôi, tôi không nghĩ đến việc tạo sự nghiệp để chia của đồng đều cho các con mà muốn hướng dẫn các con có chút vốn tri thức và nghề nghiệp để tạo dựng cho mình một cuộc sống ổn định, lương thiện, lợi cho mình và cho xã hội và quốc gia.      
            Người con trưởng như con chim đầu đàn.  Chim đầu đàn bay lạc hướng thì cả đàn khó tìm đúng hướng được.  Chính vì vậy người con trưởng là người được cha mẹ yêu thương nhiều nhất nhưng cũng là người chịu sự hướng dẫn và giáo dục gia đình gay go nhất.  Tôi kết hợp những gì tôi học từ cha tôi, từ bản thân tôi và từ những kiến thức mà tôi học hỏi nơi sách vở.  Trước năm 1975 tôi không để cho con tôi thiếu thốn nhưng lúc nào tôi cũng ngăn chặn sự xa xỉ.  Sự xa xỉ nào cũng dẫn đến óc kiêu ngạo và tính vô nhân đạo.  Tôi dạy các con tôi óc tự lập, sự tôn trọng tài sản của người khác, sự khiêm tốn, lòng tự tin, lòng nhân ái, gặp lạnh đừng run, gặp khổ đừng than mà phải đương đầu và tìm cách vượt qua.  Khiêm tốn không đồng nghĩa với khiếp nhược.  Tự tin không có nghĩa là kiêu căng, ngạo nghễ, sỗ sàng.  Khi con té, tôi không đỡ dậy.  Ngay từ khi mới sinh các cháu ngủ riêng trên chiếc nôi hay giường nhỏ của mình.  Khi các cháu ỷ mạnh xô lấn các bạn đồng tuổi thì bị rầy la ngay. Đi đâu tôi cũng dẫn con trai trưởng của tôi đi theo để cháu mở rộng tầm nhìn bên ngoài và tiếp xúc một cách dạn dĩ và tự nhiên với người lớn. Ngay từ tấm bé cháu thích mặc áo có cờ-vạt và mang giày hàm ếch.  Năm lên ba, bà ngoại cháu hỏi cháu biết đường xuống nhà ở Cư Xá Đô Thành không?  Cháu trả lời mạnh dạn: “Con biết.” Thế là cháu dẫn bà ngoại xuống nhà một cách dễ dàng trước sự ngạc nhiên của bà cháu.  Lúc sống ở Cư Xá Đô Thành, tôi sống gần một người cậu họ, chiều nào cậu cũng dẫn cháu đi dạo quanh cư xá.  Một hôm cậu về nhà và nói với tôi: “Thằng con của cháu thông minh lắm!”.  “Chuyện gì vậy cậu?” Tôi hỏi cậu.  Cậu nói: “Nó hỏi cậu cây nào cũng có lá, tại sao cây xăng không có lá?  Cậu không biết làm sao trả lời cho cháu hiểu?”      
    
            Anh Henri (Nguyễn Văn Việt) cho tôi một miếng đất để cất nhà ở Lái Thiêu.  Nhà tôi gần nhà của Ô. Lưu Tấn Kính, em họ của tiến sĩ Châu Tiến Khương.  Nhà này có vài cây nhãn rất sai trái hướng về phía nhà của tôi vì có ánh sáng mặt trời mọc.  Điều đặc biệt là các con tôi không đụng đến một trái nhãn nào của ông đến nỗi ông sai con ông hái nhãn đem qua cho tôi hàng năm!
****
            Nhiệm vụ làm cha của tôi trở nên bấp bênh sau năm 1975.  Tôi không còn được dạy học.  Đã vậy tôi phải dối gạt mẹ, vợ, các con tôi và chánh quyền địa phương rằng tôi vẫn còn dạy.   Sáng nào tôi cũng đạp xe đi về hướng Sài Gòn đến chiều mới về.  Khi vợ tôi bịnh phải giải phẫu ở bịnh viện Hùng Vương về tôi mới nói vài sự thật đau lòng.  Chiếc xe Scooter của tôi bị chánh quyền huyện Lái Thiêu tịch thu.  Tôi phập phồng lo ngại đến căn nhà của tôi trên Quốc Lộ 13.  Để chặn đứng sự suy sụp tinh thần tôi xuống Sài Gòn tìm mua một chiếc Scooter khác sau khi đổi tiền.  Lúc ấy xăng dầu khan hiếm, tiền mới đổi nên giá xe rất rẻ.  Điều làm cho tôi xúc động là tôi gặp một chiếc Scooter cùng số 8012 với chiếc xe bị huyện Lái Thiêu tịch thu, chỉ khác chữ mà thôi.  Tôi không sử dụng chiếc xe mới mua này nhiều mà chỉ để nó hiện diện trong nhà để an ủi tinh thần bớt suy sụp mà thôi.
            Trong cảnh khổ vật chất lẫn tinh thần tôi luôn luôn nêu gương kiên nhẫn, can đảm và lạc quan cho con.  Các con tôi không giống những đứa trẻ khác.  Các cháu vẫn còn tin vào sự giáo dục của cha.  Cha vẫn dùng chuyện Job, Jacob, Joseph, David, Quang Trung để kể cho các con và dạy các cháu Thiền nguyện.  Một cháu trai luôn luôn cúng nước trước bàn thờ Quang Trung Hoàng Đế mỗi ngày và cầu nguyện cho bác và chú được sớm tự do rời khỏi trại tập trung cải tạo.  Lời cầu nguyện của cháu như được sự hồi âm của vị Thiên Tướng Việt Nam.  Bác và chú của các cháu được tự do sau 7, 8 năm học tập cải tạo. 
           Cảm ơn Thượng Đế bảo vệ tôi khỏi tai họa và xui khiến các con tôi vẫn còn nghe lời chỉ dạy của tôi giữa lúc tôi không còn khả năng đem lại sự no ấm cho gia đình.  Đã thế tôi còn là một đối tượng bị theo dõi, bạn bè e ngại, người quen xa lánh.  Nhằm phá tan bầu không khí nặng nề trong gia đình do sự thiếu thốn vật chất gây ra tôi cho hai đứa con trai đi học đàn.  Thầy âm nhạc là ông ba Trọng, một giáo dân giàu có ở Bình Nhâm.  Vào thập niên 1940 ông dậy nhạc ở trường Tân Ánh Mai,Thủ Dầu Một.  Ông rất vui khi nhận con tôi theo ông học đàn vì chúng tôi quen biết nhau rất thân tình.  Từ đó trong nhà lúc nào cũng có tiếng đàn mandoline, guitare espagnole và tiếng khua nhịp nhàng của muỗng. Vật chất thiếu thốn thì mình dùng âm nhạc làm vui.  Ông ba Trọng rất thích thú vì hai con trai của tôi tỏ ra có năng khiếu về âm nhạc.  Ông dự trù dạy violon cho các cháu thì các cháu phải nghỉ học để lo học trong trường. 
           Tôi không xé khai sinh, xé bằng cấp và tẩy chay giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa bằng cách cho con nghỉ học.  Tôi không dạy hay không dám dạy các con tôi học môn gì và bỏ ngoài tai môn gì.  Môn học nào các con tôi kém đó là do sự lựa chọn tự nhiên của các cháu.  Trường học XHCN xem thường sinh ngữ.  Tôi chú trọng món này và dạy các con tôi hàng ngày.  Không biết để làm gì?  Vì bản thân tôi không có ý nghĩ rời Việt Nam.  Nhưng vạn vật hiện hữu trên mặt đất phải có công dụng của chúng.  Gia đình rơi vào cảnh túng thiếu ngặt nghèo, cơm không đủ no, áo không đủ ấm làm sao có tiền mà nghĩ đến việc vượt biên. 
           Tôi như được sinh ra để tin vào phép lạ.  Niềm tin kỳ quái ấy làm cho nhiều người biết tôi kể cả vợ tôi lấy làm lạ.  Câu Qui ne croit pas aux miracles est irréaliste trở thành kinh nhật tụng trong đời tôi.  Tôi là người thầm lặng nên ít muốn cãi vả, tranh luận với ai cả.  Nhưng luôn luôn bám lấy đức tin thiên bẩm tự nhiên của mình.  Trong tận cùng của sự khổ tôi dùng hình ảnh của Job để dạy các con tôi.  Hai bàn tay tôi bỗng nhiên nổi ghẻ vừa ngứa vừa đau nhức khó chịu.  Tôi cho đó là sự thử thách đến với tôi.  Vợ chồng thầy tôi, Giáo Sư Châu Long, đến thăm và mang thuốc uống và thuốc xức cho tôi chữa bịnh.  Tôi cám ơn thầy và nhất định thi gan cùng ma chướng.  Chuyện của tôi chỉ bằng một phần triệu chuyện của Job sao tôi không làm nổi một phần triệu đó?  Đó cũng là cơ hội cho các con tôi biết rõ cá tính của cha mình, một người cha nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái và nghiêm khắc với chính bản thân mình dù rằng đó là sự nghiêm khắc tương đối khả dĩ được mọi người chấp nhận được.
            Có lẽ các con tôi thấy cha mình có những hành động kỳ quái.  Con gái út của tôi có lần hỏi mẹ: “Ba học bằng thầy Chín không?” Nếu thầy Chín còn đi học, thầy chưa học với ba con được.” Vợ tôi đáp.  “Sao ba ở nhà hoài vậy?” Con gái út tiếp tục hỏi một cách tò mò.  Vợ tôi im lặng không trả lời.  Giữa lúc gia đình lâm vào cảnh thiếu thốn cực kỳ tôi thản nhiên ngồi nghiên cứu châm cứu và cây cỏ và chữa bịnh miễn phí cho người đồng cảnh ngộ như tôi.  Về điểm này tôi cảm ơn vợ con tôi đã âm thầm ủng hộ tôi trong hoàn cảnh sa sút trầm trọng của gia đình.  Điều này cho thấy vợ và con tôi tin tưởng ít nhiều triết lý sống cá biệt của tôi vì tôi chưa có dấu hiệu của người điên loạngàn gẫm, thù đời hay ích kỷ đáng khinh.
            Ở trường học các con tôi bị phân biệt đối xử.  Các cháu được xem là thành viên của những gia đình có lý lịch không trong sạch.  Các cháu bị cô lập trong sinh hoạt đoàn, đội trong lớp.  Lý lịch quyết định trong các cuộc thi cử vào các trường cao đẳng và đại học chớ không phải khả năng.  Nếu tính tuổi theo Mỹ con trưởng tôi tốt nghiệp Trung Học (như Tú Tài) năm 16 tuổi.  Cháu được chọn đi thi Anh Văn toàn quốc và được chấm đậu.  Nhưng khi thi vào đại học thì rớt.  Đó là sự thất vọng và thối chí đầu tiên của một thiếu niên 16 tuổi.  Con trưởng buồn rầu vì không thấy tương lai ngay ở tuổi 16.  Con gái út than thở với mẹ về sự bất công của cô giáo trong lớp.  Cháu than với mẹ mà không dám than với cha.  Tôi hỏi vợ tôi chuyện gì làm cho con gái út buồn và thối chí?  Vợ tôi lấy cuốn tập của cháu và chỉ tất cả các bài làm đều được 10/10 nhưng lúc nào cháu cũng được xếp hạng 20 trở xuống!  Thấy con buồn rầu tôi đành phải viết một bức thơ cho Phòng Giáo Dục để tìm hiểu một học sinh có 100% điểm 10/10 nhưng được xếp từ hạng 20 trở xuống vậy người được xếp hạng nhất được bao nhiêu điểm?  Tôi đề nghị cho học sinh đứng hạng nhất thi với con gái út của tôi.  Không ai hồi âm cho tôi cả.  Nhưng sau đó con tôi được xếp hạng 3, hạng 4!!  Tôi không biết nói gì mà chỉ biết an ủi con mà thôi.
            Người cha thời cuộc dần dà đi vào nếp cũ của tiền nhân:  cam phận và thúc thủ trước tình thế.    
            Tiếng khóc của trẻ con xé nát tim can của cha mẹ nghèo.  Các con tôi không khóc khi nằm trong nôi.  Bây giờ cháu đã lớn.  Các cháu khóc trong tim vì bị cả một guồng máy xã hội xô lấn và đe doạ đè bẹp.  Nỗi buồn của con lay động sự suy nghĩ của người cha.  Nếu tôi thụ động và thích ứng với xã hội chèn ép và đè bẹp mình thì năm đứa con của chúng tôi phải chấp nhận số phận hẩm hiu.    
            Nhưng phải làm gì bây giờ?    
            Tiền đâu để vượt biên?    
            Không quen biết với giới tổ chức vượt biên thì biết tin ai đây, ngõ nào để đi?    
            Trí của người làm sao bằng sự sắp xếp của Thượng Đế.  Người rơi vào cảnh túng quẩn không lối thoát và đành cam phận nhưng Thượng Đế không thấy như vậy.    
            Trước tiên Thượng Đế tạo cho tôi quyết định phải vượt biên bằng cách:
-           bóp nghẹt mọi nguồn thu nhập của tôi qua các lớp dạy sinh ngữ 
-           báo điềm cho tôi qua những tiếng gọi và giấc chiêm bao đến nỗi khi nói ra vợ tôi không một thoáng tin tưởng!  Người khác nghe tưởng tôi bắt đầu lên cơn để nói chuyện hoang đường.
-           cho tôi gặp chị năm, một người bà con bên vợ người anh thứ tư của tôi, trong lúc tôi đi Thủ Đức thăm thầy Châu Long (lúc ấy thầy đã mất).  Chị năm khuyên tôi nên rời khỏi Việt Nam.  Tôi bàn với vợ tôi về chuyện này để cho con trưởng tôi vượt biên.     Tiền đâu mà nghĩ đến chuyện xa vời?
            Sự buồn bực của con trưởng tôi làm cho một người chị họ của vợ tôi đau lòng.  Chị mồ côi khi còn nhỏ.  Bà nhạc tôi nuôi chị.  Chị không có gia đình và không làm gì ra tiền ngoài tiền mà bà nhạc tôi cho vì chị làm phụ vài công việc trong nhà hàng ngày.  Chị rất thương các con tôi và các cháu rất mến chị.  Chị nói với vợ tôi tìm đường vượt biên cho con trưởng của tôi.  Chị sẽ cho tiền.  Khi tôi nói chuyện với người chị dâu về chuyện cho cháu vượt biên.  Chị tôi nói: “Chú phải đi.  Bằng mọi giá chú phải đi.  Chuyến nầy gia đình bên tôi có 09 người đi.  Chú có khó khăn gì cứ nói cho tôi biết để lo liệu.  Chú phải đi.” Chị dâu tôi nhấn mạnh lời này như một mệnh lịnh.  Lúc ấy có lịnh cấm bán nhà.  Anh tôi học tập về gia cảnh túng bấn nên tìm cách bán nhà nhưng gặp lịnh cấm bán nhà.  Con gái anh tôi đem chuyện nầy than thở với một người bạn học.  Cô này là con của một quan chức chánh quyền mới.  Cô về nói với cha cô xem có thể giúp gì cho gia đình người bạn khác chiến tuyến.  Nhờ đó anh tôi bán được căn nhà trên đường Phan Đình Phùng.  Chị dâu tôi (vợ của người anh Phạm Đình Trí đã mất) chụp cơ hội này nói với anh Hưng cho tôi mượn tiền để vượt biên.  Anh Hưng vì thương tôi nên đồng ý không một chút do dự.  Rồi chính anh quyết định cùng đi với tôi và con tôi vào giờ chót đến nỗi vợ anh không hề biết vìchị về Phú Kiết thăm mẹ.
            Đến đây tôi xin được nói qua về liên hệ tam giác giữa anh Phạm Đình Hưng- tôi- con trai trưởng của tôi.    
            Năm 1966 anh tôi và tôi thành lập liên danh ứng cử Quốc Hội Lập Hiến ở Bình Dương, tỉnh sinh quán của chúng tôi.  Ngay trong ngày bầu cử 11-09-1966 con trai đầu lòng của tôi chào đời.  Tôi bận lo kiểm phiếu nên không đến bịnh viện Từ Dũ thăm con được.  Hôm ấy liên danh chúng tôi dẫn đầu.  Liên danh do ông Nguyễn Đình Quát thụ ủy đứng thứ nhì.  Theo thể thức đại diện tỷ lệ (représentation proportionnelle) anh Phạm Đình Hưng và Nguyễn Đình Quát được xem là dân biểu QHLH.    
            Bây giờ vượt biển anh tôi, tôi và con trai trưởng của tôi đều có mặt.  Chuyện vượt biên được trơn tru sau 32 giờ lênh đênh trên biển Thái Bình Dương.  Sáu tháng sau ngày vượt biển chúng tôi đến Hoa Kỳ.
            Chúng tôi đến Hoa Kỳ ngày 27-01-1986 vào một ngày băng giá.  Đó là nơi tôi được gọi đến trong một giấc ngủ vào thời điểm tôi không có chút hy vọng nào về việc vượt biên.  Tuyết trắng tuy lạnh nhưng không giá lạnh bằng tâm trạng não nề của tôi.  Thật khó tả nỗi lòng của người không muốn ly hương lại phải ly hương, nỗi lo lắng của người chồng và người cha đối với vợ và các con còn ở lại quê nhà, sự đau nhói trong tim của người vô tổ quốc khi vừa bước xuống xe buýt và đi từng bước nặng nhọc trên những đống tuyết dày cộm bỗng có tiếng la to “Go home!  Go home!’.  Tôi hướng mặt về phía tiếng gọi ‘go home’ mới biết có một người Mỹ da màu gọi tôi ‘go home’ như thể tôi giành đất sống với anh ta vậy.  Ở Việt Nam không ai đuổi tôi “Đi!  Đi!” tôi lại đi.  Và phải trả tiền và giao mạng sống cho biển cả để được đi tự nguyện.  Nước Mỹ không mời tôi lại đến nên anh Mỹ nầy nóng ruột là phải.  Thực sự tôi không mấy quan tâm đến sự hẹp hòi của người Mỹ đơn lẻ này.  Nếu anh ấy lạc sang Việt Nam chắc anh không được như tôi bây giờ.  Thành phố tuyết nơi tôi đến là thành phố tôi được gọi đến đó.  Tôi vâng lời đến đó với nỗi lo âu canh cánh bên lòng vì không có một việc làm thích hợp với khả năng để có tiền bảo lãnh vợ và các con còn ở Việt Nam.   Anh tôi chịu lạnh không nổi cũng tìm cách đi tìm vùng đất ấm nơi có bạn bè và đồng nghiệp cũ sinh sống.    
            Nhiệm vụ làm cha của tôi ở Hoa Kỳ bắt đầu bế tắc.   
            Ở Việt Nam sau năm 1975 tôi vẫn còn hướng dẫn, dạy dỗ cho các con trong hoàn cảnh nghèo nàn, thiếu thốn và bị rình rập.  Lúc ấy các con tôi còn nhỏ.  Ở Hoa Kỳ con tôi đã 18 tuổi.  Tiếng Anh của cháu khá vững vàng.  Cháu là phụ giáo (TA) trong trại tỵ nạn Phi Luật Tân, làm việc cho ICM và là đại diện cho người tỵ nạn định cư ở Hoa Kỳ trong chuyến bay ngày 27-01- 1986.  Đến Hoa Kỳ, trong khi chờ đợi việc nhập học đại học, cháu thử sức bằng cách thi GED và được thông qua dễ dàng.  Chuyện đau lòng là đến Hoa Kỳ hai cha con lại phải xa nhau.  Anh tôi đi hướng Tây.  Tôi đi hướng Nam.  Con tôi ở lại để chuẩn bị nhập học đại học.  Hai anh em chia tay nhau và chia tay với con tôi tại phi trường Detroit.  Con tôi trở thành một hàn sĩ trên đất lạ.  Cháu làm chủ một căn nhà 03 phòng, có lầu và basement.  Tiền thuê tượng trưng mỗi tháng $100.  Tôi làm việc ở miền Nam.  Mỗi năm về thăm con một lần.  Những ngày còn lại trong năm là những ngày cầu nguyện cho con và cho gia đình còn ở lại Việt Nam.  Tôi không làm tròn bổn phận của người cha trên đất lạ quê người.  Tôi bất lực trước hoàn cảnh và chỉ còn tinh thần phó thác với niềm tin Thượng Đế không bỏ rơi một người không có chất Thánh nhưng không có gì đáng ghét, đáng khinh và đáng bị trừng phạt cả.  Lời cầu xin của tôi được sự hồi âm tốt.  Con tôi chí thú học hành.  Mùa hè cháu xin làm việc hè để có chút ít tiền chi xài.  Nhờ những công việc này mà cháu quen biết nhiều với người Mỹ và biết thêm nhiều từ ngữ và tiếng lóng của người Mỹ.  Ngày Father’s Day năm 1990 cháu lấy BS về Electrical Engineering.
            Cuối năm 1990 vợ và 04 con ở Việt Nam đoàn tụ với tôi ở miền Nam.  Đợi đến khi tất cả đều có số SS # tôi và con trưởng tôi đưa các con vừa đoàn tụ về thành phố mà tôi được gọi đến ở miền Bắc.  Tôi vẫn tiếp tục làm việc ở miền Nam.  Nhiệm vụ hướng dẫn các em do con trưởng tôi đảm nhận thay cha.  Hàng năm vào dịp Thanksgiving hay Christmas vợ chồng tôi về thăm các cháu với những đặc sản miền Nam.
            Con trưởng tôi xứng đáng là người anh trưởng.  Cháu phải hướng dẫn các em từ việc lấy thẻ xanh, ghi danh nhập học đại học, lái xe v.v.  Đi làm về cháu lo nấu nướng thậm chí đem quần áo của các em đi giặt để các em có đầy đủ thì giờ để học.  Cháu biết nỗi lo lắng, khổ cực và dày vò của các em sau khi tôi rời khỏi Việt Nam.  Nhờ sự tận tụy của cháu mà các em được học toàn thì và không làm việc chi cả.  Đó là một điều không dễ làm ở Hoa Kỳ giữa lúc điều kiện tài chánh của các cháu không có gì đáng nói cả.  Khi các em tốt nghiệp đại học và tiếp tục học lên cao, cháu là senior engineer lương hướng khá rộng rãi.  Cháu lập gia đình và quyết định học y khoa.  Vừa lập gia đình lại bỏ công việc kỹ sư ở Dearborn để đi học y khoa, cháu làm cho vợ tôi suy nghĩ.  Suy nghĩ vì đó là một quyết định quá táo bạo.  Suy nghĩ vì sợ học không nổi do tuổi trên 35 mặc dù cháu được hai trường y khoa tuyển.  Vợ tôi suy nghĩ mông lung.  Tôi suy nghĩ khác hẳn.  Tôi khuyến khích cháu chọn con đường mà mình ưa thích mãi đến bây giờ mới thực hiện được.  Tôi khuyên vợ tôi ngừng lo sợ với lập luận không bình thường với phần lớn người đời rằng Thượng Đế đã cho tất Người có giải pháp.  Việc đùm bọc của con trưởng của tôi tiếp nối truyền thống đã có từ cha tôi.  Cha tôi từng nuôi các chú ăn học ở Sài Gòn rồi nuôi con của các chú và cháu của vợ nữa!  Anh trưởng của tôi, anh Hưng lo cho chúng tôi sau khi cha mất sớm.  Tôi tiếp nối bằng cách lo cho em út và con của một người cậu bây giờ là một đại gia ở Việt Nam.  Công việc này được con tôi tiếp nối ngay lúc cha còn sống.    
            Không có sức mạnh nào không phá vỡ được nếu có đoàn kết.    
            Không việc khó khăn nào không làm được nếu có tình thương.
           Happy Father’s Day
            
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

SỐNG TẠM - PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I. Vài Chuyện Quanh Ta SỐNG TẠM


pham dinh lan - song tam
 

pham dinh lan - song tam

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
Vài Chuyện Quanh Ta
SỐNG TẠM
Cây tầm gởi

          Chúng tôi dùng hai chữ sống tạm ở đây theo nghĩa trực tiếp, dễ hiểu chớ không có một chút màu sắc triết lý cao xa nào cả. Dân tộc nào cũng đi tìm không gian sinh tồn. Người Việt Nam thường nói:Đất lành chim đậu. Do đó không gian sinh tồn là nơi đất đai, nước uống, khí hậu hiền hòa khả dĩ nuôi sống con người. Nhưng những yếu tố trên cần mà chưa đủ. Vì nhu cầu con người không chỉ thuần là nhu cầu vật chất (no cơm, ấm áo), mà còn có nhu cầu tinh thần nữa (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, chế độ chánh trị dân chủ và nhân bản, an ninh cư trú, công bằng xã hội, được sự bảo vệ của luật pháp v.v.).
Từ khi người Pháp đô hộ nước ta số thị dân bắt đầu gia tăng so với thế kỷ trước. Dù vậy nước ta vẫn là một nước nông nghiệp. 90% dân số sống ở nông thôn và làm nghề nông. Khổng giáo có ảnh hưởng to lớn trong xã hội Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên và gìn giữ mồ mả tổ tiên là bổn phận của một con người trong xã hội Khổng giáo và nông nghiệp. Sự di chuyển của người dân từ nơi này đến nơi khác rất ít. Người bỏ xứ đi tha phương cầu thực bị dư luận trong xã thôn khinh bỉ. Con người bị ràng buộc bởi nhưng cổ tục, danh dự gia đình và sĩ diện bản thân. Tâm và thân không sao vượt khỏi lũy tre làng. Cuộc sống chật hẹp tự nhiên sinh ra tâm lý chật hẹp và những đụng chạm lẫn nhau giữa những người trong dòng họ, gia đình lẫn người quen biết trong xã thôn chật hẹp.
Sự phát triển thành phố, việc mở mang đường sá, cầu kỳ, bến cảng, thiết lộ Xuyên Việt v.v. giúp ích rất nhiều cho việc đi lại giữa miền này với miền kia trong nước. Có giao tiếp, có gặp nhau, có quen biết nhau mới hiểu được nhau mặc dù chưa được rốt ráo. Khi người Pháp đô hộ Việt Nam họ cần một số nhân công ở Việt Nam để làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ, hầm mỏ ở Nouvelle Caledonie. Châu thổ sông Hồng, sông Mã được xem là vùng bị nhân mãn trầm trọng ở Việt Nam. Họ mộ nhiều công nhân trên châu thổ sông Hồng và sông Mã để làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ và công nhân khai thác mỏ nickel ở Nouvelle Calédonie gần Úc Đại Lợi. Người Việt Nam thuộc thế hệ sinh vào thập niên 1930- 1940 đều tỏ ra phẫn nộ người Pháp tàn nhẫn đối với những phu mỏ này với hình ảnh mỗi gốc cao su chôn xác một phu cạo mũ! Mới nghe đã phẫn nộ . Trên thực tế họ chưa ai thấy và cũng không có một cuộc điều tra nhân quyền nào về việc này.
Không chối cãi được rằng có một số phu mỏ làm việc trong các đồn điền Dầu Tiếng, Phú Riềng, Lộc Ninh, Hớn Quản, Xuân Lộc bị chết vì sốt rét. Một số người tin rằng hút á phiện thì tránh được chứng bịnh gây tử vong ác quái này.
Một điều hiển nhiên khác là các phu mỏ làm việc ở Nam Kỳ hay Nouvelle Calédonia được trả lương rất thấp. Nhưng so với lợi tức mà họ thu được trên châu thổ sông Hồng và sông Mã với tư cách nông dân hay công nhân nông nghiệp thì lợi tức ấy cao hơn và đảm bảo cuộc sống hơn trước nhiều. Thấp ở đây là thấp so với công nhân người Pháp cùng làm một công việc và cùng số giờ làm việc qui định nhưng đồng lương vẫn đảm bảo sự sống đối với người Việt Nam.
Sau năm 1954 và 1975 có bao nhiêu phu mỏ làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ và quặn nickel ở Nouvelle Calédonia về miền Bắc như là sự phản đối chánh sách bóc lột công nhân của thực dân Pháp? 99.9% vẫn ở lại hai nơi nói trên. Người thì hội nhập với cuộc sống của người miền Nam. Người ở lại Nouvelle Calédonia có tên Pháp và quốc tịch Pháp. Con cháu thành đạt, khá giả và có danh vọng ngoài sự tưởng tượng của cha ông họ. Họ không sống tạm ở Nam Kỳ và Nouvelle Calédonie.
Cuộc chiến tranh Việt- Pháp bùng nổ. Thoạt tiên nhiều người ở thành phố chạy về nông thôn để tìm an ninh và an toàn. Sau một thời gian ngắn ngủi sống thiếu thốn và cảm thấy an ninh bản thân bị đe dọa họ lại chạy về thành phố. Lần này có những người chủ điền khá giả ở nông thôn cũng bỏ chạy ra thành phố để khỏi phải chứng kiến những cảnh chết chóc giữa hai phe lâm chiến và những cuộc họp dân tố khổ phú hào . Những người có đất đai ở nông thôn xem cuộc sống ở thành phố là cuộc sống tạm. Họ chờ đợi ngày chiến tranh chấm dứt để trở về quê thụ hưởng hoa lợi do đất đai mang lại. Cuộc chiến không ngắn ngủi như họ tưởng. Trái lại nó kéo dài chín năm đằng đẵng. Đất đai của họ mất sạch vì những cuộc cải cách ruộng đất trong vùng chiến khu. Ở thành phố họ không có gì ngoại trừ căn nhà sống tạm ở ven biên thành phố. Với cuộc cải cách điền địa năm 1957 ở VNCH họ được bồi thường nhưng số tiền bồi thường không được các chủ điền hài lòng. Luật Người Cày Có Ruộng năm 1970 bồi thường rộng rãi hơn. Đó là lúc các chủ điền thực sự không còn đất. Thực tế họ có nhiều ruộng đất nhưng họ không phải là người cày. Qua hai cuộc chiến và ba đợt cải cách ruộng đất của hai chế độ chánh trị đối nghịch nhau làm cho giới chủ điền mất đất hoàn toàn.
Năm 1954 đất nước qua phân. Có gần một triệu người ở miền Bắc di cư vào Nam. Ý thức việc rời bỏ nơi sinh quán không phải là điều tốt nhưng là điều không thể cưỡng lại được, những người này không xem cuộc sống ở nơi trú quán trên một phần lãnh thổ của đất nước ở phía Nam là sống tạm nên họ có cơ nghiệp vững vàng sau 20 năm sinh sống ở miền Nam.
Sau ngày 30-04-1975 Việt Nam được xem như thống nhất dưới chế độ Cộng Sản có bao nhiêu người di cư năm 1954 trở về miền Bắc để sống?
Bao nhiêu người di cư năm 1954 rời Việt Nam trước ngày 28, 29 và 30-04-1975?
Bao nhiêu vượt biên?
Bao nhiêu người còn ở lại miền Nam?
Những câu hỏi trên không khó để trả lời mặc dù chúng ta không có đầy đủ số thống kê chính xác.
Nhiều trí thức Tây học không về nước hoặc về rồi lại bỏ đi.
Có người quen đời sống tự do ở Pháp, Bỉ, Luxembourg.
Có người thấy khó phát triển những điều học hỏi ở xứ người khi về nước vì đồng lương không bằng đồng lương mà họ có ở nước ngoài hay vì trong nước không có phương tiện cho họ thi thố khả năng của mình. Khả năng của họ không được những nhà lãnh đạo đất nước đánh giá cao và dùng đúng chỗ để có hiệu quả cao nhất.
Có người yêu nước để rồi thất vọng khi va chạm thực tế phũ phàng nên vĩnh viễn sống gởi thân nơi xứ người suốt hai cuộc chiến kéo dài lê thê.
Có người không về nước vì chinh chiến kéo dài suốt một phần tư thế kỷ sau đệ nhị thế chiến. Khi về già họ trở về quê hương để gởi nắm xương tàn và được khen ngợi là người yêu quê hương.
Có người lạc lõng ngay tại quê hương mình khi tự Tây hoá mình một cách thái quá. Đa số các vị nói trên, nếu có về nước, thì chỉ sống tạm mà thôi.
Mỗi người trong số này có lý do riêng của mình.
Sau 1975 có ba triệu (03 triệu) người Việt Nam khắp ba miền rời khỏi nước và được định cư trên 80 quốc gia trên thế giới. Đó là các thuyền nhân (boat people) đi đường biển và hành nhân (walk people) đi bằng đường bộ bằng ngã Cambodia. Thành phần người Việt Nam rời Việt Nam gồm có:
1. quân nhân, công chức và gia đình ở miền Nam Việt Nam rời khỏi nước bằng tàu hay phi cơ. Ngoài ra còn có một số ngư phủ ở Vũng Tàu, Phước Tỉnh ra khơi và được tàu Hoa Kỳ vớt. Đó là đợt rời khỏi nước trước và sau khi tổng thống Dương Văn Minh nắm quyền ngày 28-04-1975. Đợt ra đi nầy lối 150,000 người.
2. sau đợt đổi tiền và ngăn sông cấm chợ nhiều người bắt đầu tổ chức vượt biên bằng thuyền gắn máy vào năm 1976. Người tổ chức vượt biên bắt buộc phải có móc nối với công an Cộng Sản ở những nơi có sông nước và biển cả. Dù vậy đa số các cuộc vượt biên đều bị bắt. Có sự thông đồng giữa người tổ chức và công an? - Cũng có thể. Đó là cách người tổ chức vượt biên lấy tiền của người vượt biên một cách trơn tru, êm ái vì bị công an bắt nên cuộc vượt biên thất bại!! Đa số những người vượt biên năm 1976 là người Việt gốc Hoa. Đến năm 1978 chánh quyền Cộng Sản cho người Việt gốc Hoa đăng ký bán chánh thức. Mỗi người phải trả 10 lượng vàng (01 lượng: 37.5 grams vàng). Vì chuyện đem người bỏ biển này mà Hoa Kỳ đưa ra chương trình ODP (Orderly Departure Program: Chương Trình Ra Đi Trật Tự). Dưới thời tổng thống Carter và sau cuộc chiến tranh Trung- Việt nhiều người ở miền Bắc tìm đường đến Hong Kong. Theo gương Pháp cho các con lai Pháp hồi hương, Hoa Kỳ cũng có chương trình đưa những người con lai sang Hoa Kỳ vào thập niên 1980. Đến đầu thập niên 1990 những quân nhân công chức bị học tập cải tạo ba năm trở lên được sang Hoa Kỳ theo diện HO (Humanitarian Operation). Tướng Lý Tòng Bá và thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Mai Văn An là những viên chức cao cấp của VNCH trước kia đến Hoa Kỳ theo diện HO đầu tiên. Trại tỵ nạn Hong Kong đóng cửa năm 1989. Các trại khác ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia lần lượt đóng cửa vào giữa thập niên 1990. Đến năm 1995 có 03 triệu người tỵ nạn Việt Nam trên thế giới. Trong số này có trên 01 triệu người định cư ở Hoa Kỳ. Người ta ước lượng có lối nửa triệu người bị chôn vùi dưới lòng biển vì bão tố, đói khát, hải tặc Thái cướp và giết chết.
3. Năm 1995 Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập bang giao. Từ đó Hoa Kỳ tiếp nhận nhiều du sinh Việt Nam. Những du sinh nầy xuất thân từ những gia đình của các viên chức cao cấp Cộng Sản trong nước. Họ học các trường danh tiếng, học phí $40,000- $50,000/ năm. Họ có nhà cửa khang trang, xe cộ đắt tiền trong khi đi học. Một số khác mua nhà, đất để kinh doanh lớn lao trên đất khách. Vài trăm ngàn người Việt Nam ở miền Bắc (trước 1975) và ở hai miền Nam- Bắc (sau 1975) được đưa sang các nước Cộng Sản theo diện xuất khẩu lao động. Họ sống ở Liên Sô (bây giờ là Nga) và các nước Đông Âu, sau này có một số người được xuất khẩu lao động sang Trung Đông và các quốc gia Âu Châu phi Cộng Sản.
Như vậy hiện nay có trên 04 triệu (04 triệu) người Việt Nam sống rải rác ở 80 quốc gia. Đó là chưa kể một số phụ nữ có chồng Đài Loan, Đại Hàn, Trung Hoa lục địa và một số người lao động lưu lại làm ăn ở Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore v.v. Cách đây 20 năm có 370 người sống ở Do Thái và không người nào được nhập tịch Do Thái cả!
Ở phần trên chúng ta thấy một số người tản cư từ thôn quê ra thành thị sống tạm trong thời chiến tranh Việt- Pháp. Bốn triệu người Việt Nam sống trên 80 quốc gia khác biệt nhau về địa phương, tôn giáo, chánh kiến chánh trị, lý do tỵ nạn (chánh trị? kinh tế? cơ hội xuất ngoại? v.v.) đã xa quê hương gần nửa thế kỷ. Con cái của họ ở vào tuổi trung bình từ 40- 55 tuổi. Những người thanh niên này nay đã có gia đình. Có người có dâu, rể, cháu nội và cháu ngoại. Họ không biết gì Việt Nam, nói tiếng Việt kém hơn nói tiếng Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Tây Ban Nha. Và, nếu nói được tiếng Việt, họ nói theo giọng Hoa Kỳ hơn là giọng Bắc, Trung hay Nam. Họ không thể là những người sống tạm mà là sống thật trên đất nước nơi họ ra đời hay ít ra đã nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo họ thành người hữu dụng có cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc. Người Cajuns là người Canada gốc Pháp sống ở Louisiana và các tiểu bang ven Vịnh Mexico. Người Canada ở đông bộ nước này từ Pháp sang sinh sống vào thế kỷ XVII. Người Canada ở Québec, Montréal còn nói tiếng Pháp, vài từ ngữ của Pháp ngữ thế kỷ XVII còn lưu lại. Rất ít người Cajuns ở Louisiana nói được tiếng Pháp. Họ là những người Canada gốc Pháp đến vùng Louisiana nguyên thủy thuộc Pháp (nguyên thủy Louisiana lớn gấp 3.5 lần diện tích Louisiana bây giờ). Trên thực tế những người Pháp ở Canada hay người Cajuns ở Louisiana đều là Canadians và Americans. Họ sống thật ở Canada và Hoa Kỳ chớ không sống tạm. Canada và Hoa Kỳ là tổ quốc của họ. Sự hưng thịnh và suy vi của Canada hay Hoa Kỳ là sự hưng thịnh và suy vi của vùng đất nơi họ sinh ra, lớn lên, được nuôi dưỡng, giáo dục và chính họ cũng góp sức vun bồi cho sự phát triển và lớn mạnh của không gian sinh tồn ấy. Tất cả người Âu Châu đến Hoa Kỳ đều tìm mảnh đất lành để sống và sống thật chớ không nói là sống tạm. Có bao nhiêu người Pháp thời cách mạng 1789 dùng tàu buồm vượt Đại Tây Dương sang Mỹ Châu trở về Pháp sau khi chế độ khủng bố của Robespierre sụp đổ?
Một điều đáng suy nghĩ là những người lãnh đạo ở Việt Nam lãnh đạo như thế nào mà cả họ và gia đình họ đều muốn rời khỏi Việt Nam? Cố nhiên lý do họ muốn rời quê hương của họ hoàn toàn không giống lý do của đại đa số những người khác bị đưa vào thế phải rời khỏi xứ sở như một cuộc vượt thoát của người tù trong một nhà tù vĩ đại.
Viết đến đây tôi nhớ đến câu chuyện giữa Đức Khổng Tử và người đàn bà ngồi khóc vì có con bị cọp ăn.
Đức Khổng Tử đến một làng hẻo lánh nổi tiếng có nhiều cọp dữ. Ông gặp một người đàn bà ôm mặt khóc tức tưởi. Đức Khổng Tử hỏi tại sao bà khóc. Người đàn bà trả lời: “Con tôi vừa bị cọp ăn. Cả nhà tôi đều bị cọp ăn chỉ còn sót một mình tôi chưa bị cọp ăn mà thôi.”
Nghe như vậy Đức Khổng Tử ngạc nhiên hỏi: “Ở nơi hẻo lánh và có nhiều cọp dữ như vậy sao không tìm cách đi nơi khác mà sống?
Người đàn bà đáp: “ Ở đây có nhiều cọp dữ. Nhưng các nhà cai trị đều thương dân, lo cho dân. Chắc gì đến nơi khác có những phụ mẫu chi dân tốt như vậy.
Đức Khổng Tử day sang các đệ tử và nói rằng: “ Nhà cai trị thối nát, hung bạo , tham lam, hối mại quyền thế còn dữ hơn cả cọp dữ ăn thịt người.
Việc gia đình các viên chức Cộng Sản chuẩn bị rời khỏi quê hương sau khi làm giàu không thể so sánh với cuộc đối thoại giữa Đức Khổng Tử và người đàn bà ngồi khóc vì có con bị cọp ăn được.
Xem chừng cuộc sống của bốn triệu người Việt Nam sống trên 80 quốc gia trên thế giới không còn là sự sống tạm nữa. Những người xuất khẩu lao động sang các nước Cộng Sản như Liên Sô, và các nước Đông Âu đều có lý lịch Cộng Sản tốt. Các nước Cộng Sản Đông Âu hay Liên Sô tuy không giàu có như các nước Âu Châu không Cộng Sản như Pháp, Tây Đức, Hòa Lan, Ý…nhưng vẫn hơn Việt Nam rất nhiều. Sau khi các nước Cộng Sản Đông Âu không còn theo chế độ Cộng Sản và Liên Sô sụp đổ, họ cũng cố gắng tìm mọi cách ở lại đó chớ không nghĩ đến việc về “phục vụ” quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa với niềm tin không lay chuyển về sự lãnh đạo ưu việt của đảng. Cho dù chế độ Cộng Sản tồn tại hay tiêu vong, có bao nhiêu người trong số 04 triệu người sống trên 80 quốc gia trên thế giới về “phục vụ” quê hương với những tinh hoa học hỏi được từ 80 quốc gia trên thế giới? Câu trả lời sẽ làm cho người lạc quan nhìn đời qua màu hồng thất vọng ê chề. Trên hai thập niên qua có ba người nổi tiếng về nước là tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhạc sĩ Phạm Duy và tiến sĩ văn chương Trần Văn Khê với luận án La Musique Traditionnelle du Việt Nam (Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam). Các vị này hy vọng khi chết được chôn nơi quê cha đất tổ. Hai ông Phạm Duy và Trần Văn Khê được toại nguyện vì cả hai ông đều tham gia công tác văn nghệ trong những ngày đầu cuộc chiến tranh Việt- Pháp. Tướng Nguyễn Cao Kỳ không được chôn ở Sơn Tây như ông mong ước khi còn sống mà được chôn ở quê hương thứ hai của ông.
Người cầm quyền trị quốc như thế nào mà dân chúng lúc nào cũng ngóng bên ngoài để tìm cơ hội thuận tiện rời khỏi xứ? Ngay cả người cầm quyền và gia đình họ cũng có thái độ tương tự. Vậy con thuyền Việt Nam sẽ đi về đâu? Quo vadis?
 
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

Thứ Năm, 1 tháng 6, 2017

BAN TIN THAN HUU CHU TRUONG: PHAM DINH LAN SO 99 - 2017


BAN TIN

THAN HUU

CHU TRUONG:  PHAM DINH LAN

SO 99 - 2017

TIN TUC

*    Nhac si Lu Phuong tuc Pham Van Lam  sang tac bai Cong Troi.  Dai phu Nguyen Dang Cung co ngay bai viet ve Cong Troi o Ha Gang noi cac cai tao vien xem la cong cua Than Chet.  Lu Phuong ngay cang noi bat voi cac bai tho, ban nhac sang tac cung nhu hinh anh suu tam ve Viet Nam vao the ky XIX, trong chien tranh Viet- Phap, thoi ky dat nuoc qua phan v.v.  Hinh anh duoc long nhac khien cho thi giac va thinh giac cua nguoi xem duoc phuc vu day du.  Rat thich thu ve hinh anh va cau chuyen Fatima 100 nam truoc (13-05-1917).
*   Anh Pham Ngoc Lan la mot nha khoa hoc (duoc si, giang nghiem vien dai hoc Duoc Khoa, co cu nhan khoa hoc) thanh cong trong lanh vuc am nhac nghe thuat voi cac ban nhac Viet Nam va ngoai quoc luc ve huu.  Anh la tac gia quyen De Pere Inconnu (Cha Vo Danh), mot quyen sach tu thuat ve cuoc doi cua chinh anh, mot nguoi Phap lai (Eurasien) qua nhung nam binh bien va thang tram o que me.  Quyen De Pere Inconnu da phat hanh lan thu nhi (2eme edition).  Anh Lan nam nay 73 tuoi nhung tam hon con tre.  Anh dan va hat rat hay.  Nha anh o Toulouse voi song Garonne tho mong cach bien gioi Tay Ban Nha khong xa.  Quanh nha anh trong nhieu loai hoa dep nhat la hoa hong du loai va nhieu mau sac khac nhau va hoa coquelicot (Flandres Red Poppy- Hong Thau Flandres) mau do tham.    Hoa Red poppy (Hong Thau- cung ho voi a phien) moc hoang o vung Flandres, Bi.  Mau do tham cua hoa duoc xem nhu hong huyet cua nhung chien si phe dong minh chong Duc trong de nhat the chien WWI o Flandres, Bi.  Cam on anh da goi nhung bai hat hay va hinh anh cua vuon hoa dep.  Canh nha anh giong nha cua cac Hidalgo thoi hau Columbus o Tay Ban Nha.
*   Pham Thi Phuong, Lam Thi Phuong va Nguyen Thi Mai dao nay ban ron viec nha nen khong thay tham gia cac cuoc thao luan ve vai chuyen quanh ta. 
*   To Hong Linh:  Co tin gi cua dai phu Nguyen Van Chi khong?  Ca nam nay khong hay tin gi cua Chi.  Em co gap lai anh Nguyen Thanh Tung khong?
*   Tran Ngoc Thanh:  Em co gap Bui Viet Thac khong?  Tinh trang suc khoe cua Thac ra sao?  Cau xin van su duoc binh thuong.  Co gap Thac cho toi toi loi tham. 
*   Tin ve Nguyen Van Gung:  Trong cuoc noi chuyen voi phu quan cua co em ho Dang T. Nhu Lan la Phan Thanh Ruoi toi duoc biet chu nam Nguyen Van Gung da mat ngay 20-04-2017 tai Yukon, Oklahoma.  Vai ngay sau chu Pham Van Tien cung bao tin nay.  Chu Pham Van Tien co den Yukon doc dieu van tien dua chu nam Gung ve coi vo sinh vo tu.  Cam on chu Tien ve viec lam day y nghia nay.  Truoc la tinh dong doi (Marines: TQLC).  Sau la dong huong (Binh Hoa) va cuoi cung la than thuoc.  Chu Nguyen Van Gung la nguoi thich hoat dong.  Roi VN nam 1975 chu dinh cu o Oklahoma.  Chu tham gia cac sinh hoat Phat Giao, cong dong nguoi Viet va cac hoi doan cuu quan nhan VNCH tai tieu bang cu ngu.
*   Phan Kim Ngoc yeu cau duoc thay hinh anh cua  thao moc la do duoc si Lam Thi Phuong phien am.  Phuong la nguoi rat khoa hoc, rat ky luong va can trong cua mot ba thay thuoc.  Khi giup toi phien am cac loai thao moc Phuong ghi luon cach goi ten bang quan thoai (mandarin) va kem theo luon hinh anh.  Ve Day Cam voi ten Phi Long Chuong Huyet duoc nu si Dang Ngoc Le Khanh minh hoa bang hinh anh lay tu internet.  Ba giao Ngoc la mot nha nong hoc am tuong hau het cac loai thao moc an duoc o mien Tay.  Ba giao Ngoc cung thich tim hieu ve nau nuong va y te tri lieu.
*   Thay lai anh chup cua Le Thi Tam toi khong hinh dung duoc Le Thi Tam LTK, Le Thi Tam co giao Viet Van tot nghiep DHSP Sai Gon va ni su Le Thi Tam.  Tam LTK om va cao.  Tam, ni su, hong hao, phuc hau va co ve thap hon ngay xua. Theo Pham Thi Phuong, Tam co tien si Phat Hoc o An Do, hien tu trong ngoi chua tren duong Thanh Thai, Sai Gon.
*   Nhin anh chup mot vai nguoi Viet den vieng mo cua giam muc Alexandre de Rhodes, nguoi phat minh ra chu quoc ngu theo mau tu La Tinh, tren cao nguyen Ispahan, Iran, tu nhien toi cam thay su hieu biet cua minh bi xao tron.  Tu nam 1979 den nay Iran la mot Cong Hoa Hoi Giao thuoc phai Shiite.  Ho co nhan quan ton giao day co chap ngay ca voi nguoi dong dao nhung khac phai.  The ma ho van ton trong mo ma cua mot giam muc khong cung ton giao va khong cung chung toc voi ho.  Vi giam muc Thien Chua Giao Phap nay chet cach day gan 04 the ky.  Chuyen nho va tam thuong nay cung cho chung ta mot chu de de suy nghi.
VAI CHUYEN QUANH TA
Su Thang Tram cua Cac Dia Danh
          Tu ngay Ly Thai To thien do tu Hoa Lu, Ninh Binh, ve thanh Dai La va thay rong bay nen dat ten la Thang Long (1010).  Den doi Hau Tran (cuoi the ky XIV) Le Quy Ly thao tung trieu dinh.  Thang Long duoc goi la Dong Kinh hay Dong Do doi lai voi Tay Do la Thanh Hoa.  Chu Tonkin duoc xem la chu phien am tu chu Dong Kinh.  Nguoi Trung Hoa phat am chu T va D gan giong nhu nhau.  Ho doc Do, Re, Mi thanh To, Le, Mi.  Do do Dong Kinh duoc phat am thanh Tong King.  Chu Tonkin sau nay co nghia la Bac Ky, vung dat chay dai tu Ninh Binh len den bien gioi Viet- Hoa.
          Duoi trieu vua Gia Long, vi vua sang lap ra nha Nguyen, Dong Kinh hay Dong Do duoc cai danh thanh Ha Noi.  Trong thoi ky khang chien chong Phap Ha Noi duoc goi la Ha Thanh.  Viet Minh co khuynh huong cai danh Ha Noi thanh Thanh Pho Hoang Dieu, vi tong doc tu tu khi quan Phap, duoi su chi huy cua Henri Riviere, danh chiem thanh nam 1882.
          Thanh Phu Xuan duoc bat dau xay duoi thoi chua Nguyen Phuc Tran (1687- 1691).  Khong bao lau sau do Phu Xuan tro thanh trung tam chanh tri cua chua Nguyen o Nam Ha.  Phu Xuan tro thanh kinh do cua nha Tay Son cua Quang Trung Nguyen Hue tu nam 1786 den 1801.  Nam 1802 Nguyen Phuc Anh len ngoi tuc la vua Gia Long.  Phu Xuan tro thanh kinh do cua nuoc Viet Nam thong nhat tu thanh Gia Dinh den thanh Thang Long duoi ten moi: HUE.
          Hoai Pho la ten cu cua Hoi An.  Tu Hoai Pho am ra thanh Haifo roi Faifo.
          Cua Han la ten cu cua Da Nang.  Duoi thoi Phap thuoc Da Nang duoc goi la Tourane.
          Qui Nhon mot thoi la Hoang De Thanh, kinh do cua nha Tay Son Nguyen Nhac.  Sau khi nha Tay Son bi danh bai nha Nguyen cai danh Qui Nhon thanh Binh Dinh.
          Sai Gon nhap tich Viet Nam vao nam 1698.  Nhieu gia thuyet cho rang dia danh Sai Gon xuat phat tu chu Khmer Prei Kor co nghia la ‘rung gon’.  Sai Gon duoc thiet ke nhu mot Paris nho hep tu thap nien 1860 ve sau.  Vuong Cung Thanh Duong Sai Gon duoc goi la nha tho Duc Ba chu dich tu Notre Dame (de Paris).  Song Sai Gon duoc vi nhu song Seine.  Dinh thu, cong oc, thuong xa, truong hoc, duong sa trong thanh pho goi lai kien truc va thiet ke do thi cua Phap o Paris.  Trong cuoc bieu tinh cua hoc sinh Sai Gon dau nam 1950 Sai Gon duoc goi la Sai Thanh.  Cho Ben Thanh bi dot chay.  Giang cang Sai Gon la cang quan trong nhat trong nuoc.  Tu mot thanh pho moi, quan trong ve phuong dien kinh te va duoc mo cua bang dan phao de don nhan chu quoc ngu va van hoa Tay Phuong, Sai Gon tro thanh thu do cua Quoc Gia Viet Nam (Etat du Viet Nam) tu nam 1949 den 1955 roi Viet Nam Cong Hoa (1956- 1975).  Ngay 30-04-1975 Viet Nam Cong Hoa sup do.  Nam 1976 Sai Gon duoc cai thanh thanh pho Ho Chi Minh.
          Nguoi Viet Nam dat chan tren dat Thuy Chan Lap vao nam 1623 sau khi cong chua Ngoc Van duoc ga cho vua Chan Lap.  Phan dat o cuc nam dat nuoc nhap tich Viet Nam vao nam 1753 voi ba sac thai hinh thanh trong lich su:  Khmer, Nam Tien cua nguoi Viet Nam + bien phap quan su cua cac chua Nguyen, Trung Hoa (Mac Cuu o Ha Tien, Tran Thuong Xuyen o Bien Hoa, Hoang Tien, Duong Ngan Dich o My Tho v.v.).  Do do, vung dat rong 65,000 km2 o cuc nam dat nuoc trai qua nhieu bien thien thang tram.  Sau khi ho Nguyen danh bai nha Tay Son, Nguyen Phuc Anh len ngoi tuc la vua Gia Long tri vi tren mot vung dat rong trai dai tu ai Nam Quan den mui Ca Mau.  Duoi thoi vua Gia Long, Bac Ky duoc goi la Bac Thanh sau doi thanh Bac Ky (Tonkin), Bac Bo (1945 thoi Tran Trong Kim va Viet Minh) roi Bac Viet (thoi quoc truong Bao Dai), Bac Phan (thoi tong thong Ngo Dinh Diem va Nguyen Van Thieu).  Vao dau the ky XIX vung dat cuc nam nuoc Viet Nam la Gia Dinh Thanh.  Quyen Gia Dinh Thanh Thong Chi cua Trinh Hoai Duc duoc Aubaret dich thanh Description de la Basse Cochinchine.  Duoi trieu vua Minh Mang cac danh xung Bac Ky, Trung Ky, Nam Ky xuat hien.  Nam 1945 Bac Ky, Trung Ky, Nam Ky tro thanh Bac Bo, Trung Bo, Nam Bo.  Duoi thoi chanh phu Quoc Gia do cuu hoang Bao Dai lanh dao 1949- 1955 ten goi ba mien la Bac Viet, Trung Viet va Nam Viet.  Tu nam 1956 den 1975 xuat hien cac ten goi Bac Phan, Trung Phan va Nam Phan.
          Duoi trieu vua Gia Long Gia Dinh Thanh co Ngu Tran:
1.      Bien Tran (Bien Hoa)
2.      Phien Tran (Gia Dinh) 
3.      Dinh Tran (Dinh Tuong) 
4.      Vinh Tran (Vinh Long) 
5.      Ha Tran (Ha Tien). 
          Tu trieu Minh Mang den trieu vua Tu Duc, Nam Ky co Luc Tinh. Do la:
1.      Bien Hoa 
2.      Gia Dinh 
3.      Dinh Tuong 
4.      Vinh Long 
5.      An Gang 
6.      Ha Tien.
          Khi Phap chiem Nam Ky vao nam 1862, 1867 ho chia Nam Ky ra lam 21 tinh nho de tien viec kiem soat va binh dinh lanh tho.  Cho Lon, Thu Dau Mot, Tan An, Tay Ninh, Ben Tre, Sa Dec, Chau Doc, Go Cong, Can Tho, Soc Trang, Bac Lieu, Tra Vinh, Rach Gia, Ba Ria, Cap St Jacques (Vung Tau), Tra Vinh, Bac Lieu v.v. tro thanh tinh.  Duoi thoi tong thong Ngo Dinh Diem tinh Cho Lon, Go Cong, Chau Doc, Bac Lieu, Ha Tien bi bai bo.  Cho Lon sap nhap vao do thanh Sai Gon- Cho Lon.  Go Cong  thuoc tinh Dinh Tuong; Chau Doc thuoc tinh An Giang; Bac Lieu (Po Loeuth: cay da to) thuoc tinh An Xuyen (Ca Mau), Ha Tien thuoc tinh Kien Gang (Rach Gia).  Duoi thoi Phap thuoc, Dinh Tuong tro thanh My Tho (tieng Khmer Me sa:  Ba Trang), An Giang:  Long Xuyen.  Duoi thoi de nhat va de nhi Cong Hoa  dia danh Dinh Tuong va An Gang duoc phuc hoi nhu duoi trieu Nguyen.  Trong thoi ky dat nuoc qua phan  nhieu dia danh o Nam Phan bi cai danh:
TEN CU                  TEN MOI
Thu Dau Mot           Binh Duong
Tan An                   Long An
Ben Tre                  Kien Hoa-Truc Giang
Can Tho                 Phong Dinh
Soc Trang               Ba Xuyen
Ca Mau                  An Xuyen
Tra Vinh                  Vinh Binh
Rach Gia                Kien Giang
Ba Ria                    Phuoc Tuy
Cap St Jacques       Vung Tau
            TINH MOI
Duc Hoa                 Hau Nghia
Vi Thanh                 Chuong Thien
Ca Mau                  An Xuyen
Ba Ra                     Phuoc Long
Hon Quan               Binh Long
Cao Lanh                Kien Phong
Moc Hoa                 Kien Tuong
Gia Nghia               Quang Duc
Phu Giao                Phuoc Thanh (sau giai the tro thanh quan Phu Giao thuoc Binh
                                        Duong)
Xuan Loc                Long Khanh
          Vai dia danh nhu Darlac, Liang Biang, Djiring, Pleiku, Fansipan… duoc am thanh Dac Lac, Lam Vien, Di Linh, Phu Bon, Hoang Lien Son, ten mot duoc thao, cay hoang lien Coptis teeta.  Cap St Jacques, Tourane…duoc doi ra Vung Tau, Da Nang.  Su cai danh cac dia danh o Nam Bo tro nen tram trong sau ngay 30-04-1975 vi ly do chanh tri. 
          Ten Sai Gon khong con nua. 
          Tinh Gia Dinh bi xem nhu bi xoa tren ban do.
          Dia danh Bien Hoa tro thanh Dong Nai nhu ten goi Loc Da da co tu the ky XVII.
          Hau het cac dia danh o Nam Bo deu bi cai danh ngoai tru Ben Tre (vi co cuoc dong khoi), An Giang (tinh sinh quan cua ong Ton Duc Thang), Long An (Tam Vu; mat khu Vam Co), Tay Ninh (noi thanh lap Mat Tran voi tran danh Trang Sup).  Binh Duong duoc doi thanh Binh Thu, Song Be roi tro lai ten cu:  Binh Duong; Lai Thieu:  Thuan An (do su ket hop cua Thuan Giao va An Phu); Bien Hoa:  Dong Nai; Can Tho:  Hau Gang; Dinh Tuong:  Tien Giang; Vinh Long:  Cuu Long; Ca Mau:  An Xuyen, Minh Hai v.v.
****
          Tu the ky XVI den dau the ky XIX Viet Nam dam chim trong khoi lua vi su tranh quyen giua cac ho phong kien Le, Mac, Trinh, Nguyen, Nguyen Tay Son.  Phe thang tran co khuynh huong dep bo tat ca nhung gi thuoc ve phe bai tran.  Cang co chap hon nguoi thang tran trung phat nguoi bai tran bang cach hanh ha, ha nhuc ke chien bai, giam cam, luu day va bien ho va con cai ho thanh ke no le ngheo nan, thieu an, that hoc  o vung kinh te moi nui rung trung diep xa anh sang van minh loai nguoi.   Viec cai danh cac thanh pho hay xoa bo ten chung tren ban do, va dao mo cuoc ma, san phang cac cac nghia trang quan doi mien Nam sau ngay 30-04-1975 cho thay su hep hoi, nho mon, co chap cua nguoi lanh dao phe chien thang khi bien nguoi dong chung, dong bao, cac dia danh, phong canh ke ca cac mo ma vo tri, vo giac thanh ke thu! 
Hinh Anh Hai Vi Tong Thong
          Phap la mot dan quoc (Cong Hoa) theo che do dai nghi.  Hoa Ky la mot dan quoc theo che do tong thong.  Phap la mot quoc gia Thien Chua Giao.  Duoi che do quan chu truoc cach mang 1789, khac voi Anh, Phap chua he co mot vi Nu Hoang nao ca.  Nuoc Phap tung nguong mo nen dan chu cua Hoa Ky.  Phap quyen gop tien de duc tuong Nu Than Tu Do de tang Hoa Ky nhan le ky niem 100 nam ngay bang Tuyen Ngon Doc Lap Hoa Ky chao doi.  Tren hai the ky nay Hien Phap Hoa Ky co tu chinh nhung khong bi huy bo.  Trai lai den nam 1958 Phap da co den 05 nen Cong Hoa.  Tuong Charles De Gaulle len cam quyen nam 1944 sau khi Phap duoc giai phong.  Ong co khuynh huong sua doi hien phap tien toi che do tong thong.  Nhung ong som tu chuc va De Tu Cong Hoa (1946- 1958) duoc ra doi  khong nhu uoc muon cua ong.  Nam 1958 khi tro lai chanh quyen do nhung khung hoang do cuoc chien tranh Algeria gay ra, tuong De Gaulle cho ra doi  De Ngu Cong Hoa Phap.  Hien Phap De Ngu Cong Hoa Phap danh cho tong thong nhieu quyen hanh nhu tong thong Hoa Ky chi khac la quyen hanh phap co tong thong va thu tuong.  Thu tuong do tong thong lua chon.
          Truoc kia nhiem ky tong thong Phap la 07 nam.  Khong co gioi han so nhiem ky tranh cu cua tong thong duong nhiem.  Hien nay nhiem ky cua tong thong Phap chi co 05 nam.  Phap la quoc gia da dang.  Ung cu vien tong thong phai dat tren 50% phieu bau moi duoc xem nhu dac cu.  Neu trong vong dau khong ung cu vien nao dat 50%+ 1 phieu bau thi hai ung cu vien co nhieu phieu nhat se ra tranh cu trong vong hai.  Luc ay chi co hai ung cu vien nhu o Hoa Ky.
          Trong ky bau cu nam 2017 ung cu vien dac cu trong vong hai la Emmanuel Macron.  Ong Macron cua dang En Avance! (Tien Len!) da thang ba Le Pen cua dang National Front (Mat Tran Quoc Gia) voi ty le 66.1%- 33.9% (1.95 lan lon hon).
          Giong nhu ung cu vien Donald Trump, ung cu vien tong thong Hoa Ky nam 2016, ba Le Pen duoc tong thong Nga la Putin ung ho.  Tin tuc cua ung cu vien Macron bi Nga tac.  O Hoa Ky ong Trump duoc dac cu.  O Phap Le Pen duoc Putin cong khai ung ho  nen bi that cu nang!
          Tong thong Emmanuel Macron la vi tong thong tre nhat cua Phap trai qua 05 nen Cong Hoa Phap. 
          Napoleon Bonaparte lam de nhat Tong Tai (Consul) nam 1799 sau mot cuoc dao chanh ngay 18 Brumaire (lich Cach Mang) tuc ngay 09-11-1799.  Luc ay ong moi 30 tuoi.  Nam 1802 ong duoc 33 tuoi.  Ong xung la Tong Tai doi doi.  Nam 1804 ong xung la hoang de Napoleon I  o vao tuoi 35.  Nhung day khong phai la chuc vu dan bau ma chuc vu duoc xay dung tren dao chanh va nhung chien cong quan su.
          Doi voi Macron, dac cu tong thong vao tuoi 39 la mot danh du.  Nguoi Phap theo dao Thien Chua, ton trong su binh dang giua nguoi va nguoi, giua nam va nu.  Thuc te nuoc Phap khong co nu hoang cung khong co nu tong thong dan bau cho den nay.  Nguoi Phap trong tuoi tac va kinh nghiem.  That la mot danh du cho mot nguoi 39 tuoi nhu ong Macron duoc bau lam tong thong tre vao nam ky niem 100 nam ngay sinh cua co tong thong John F. Kennedy, vi tong thong tre tuoi nhat cua Hoa Ky (43 tuoi khi dac cu nam 1960).
          Hoa Ky la mot quoc gia tre.  Nguoi duoc dac cu tong thong o Hoa Ky thuong co nhung dac diem sau day:
1.      tuong mao de nhin
2.      cao lon; doi dao suc khoe
3.      giau co
4.      co kha nang van hoa cao nhu mot su dam bao cua su thanh cong trong viec lanh dao quoc gia.
5.      Tuoi tac giua 40- 65.
          Giua  tong thong Macron va tong thong Trump co vai diem khac biet:
a.      Ong Macron dac cu o tuoi 39.  Ong Trump dac cu o tuoi 70.
b.      Ong Macron (1977- ) co vo lon hon ong 24 tuoi.  Ba Brigitte Trogneux sinh nam 1953 la co giao cua ong o truong La Providence o Amiens.  Ong Macron yeu ba khi ong moi len 15 tuoi trong khi ba co chong va co ba con.  Nam 2007 ho lam le cuoi va song em am den nay.  Ba Brigitte giup ich rat nhieu cho ong Macron.  Cac con cua ba cung the.  Ong Donald Trump ly di hai doi vo va hien song voi ba Melania Trump (1970- ) tre hon ong 24 tuoi.
c.      Ong Macron hoc Triet Hoc o Paris Nanterre Universite, co Cao hoc chanh tri hoc (Science Po.) va tot nghiep ENA (Ecole Nationale d’Administration:  Quoc Gia Hanh Chanh noi dao nhieu nha lanh dao noi tieng cua nuoc Phap).  Ong co nhieu kinh nghiem ve kinh te, tai chanh.  Nam 2014 ong la tong truong bo Kinh Te trong chanh quyen Xa Hoi cua tong thong Hollande.  Nam 2016 ong tu chuc va lap ra dang En Avance! (Tien Len!).  Muc dich cua dang nay la doan ket hai khuynh huong doi nghich Ta- Huu.  Dang ra doi chua day mot tuoi nhung da giup cho Macron thanh cong ve vang trong cuoc bau cu vua qua.  Dieu nay chung to Macron  thanh cong khi lam thanh tra tai chanh va tong truong bo Kinh Te.  Mot nguoi khong giau, nhung tre, dep trai va tu tin da chinh phuc ba nguoi con rieng cua vo ngang hang tuoi voi minh khong phai la mot chuyen de dang!  Do cung la mot khia canh thanh cong va mot triet ly song cua Macron vay.  Macron hoc hoi ky thuat van dong bau cu cua Obama o Hoa Ky.  Chinh cuu tong thong Obama ung ho Macron.  Tong thong Trump ung ho cho Le Pen.  Ong Trump co cu nhan ve Kinh Te truong The Wharton School of the University of Pennsylvania.  Ong la nha ty phu lam giau bang dia oc va do truong.  Ong hoan toan khong co kinh nghiem hanh chanh, chanh tri va ngoai giao quoc te.  Cung khong co chuc vu dan cu hay chien cong quan su nao truoc khi dac cu tong thong Hoa Ky.

d.      Voi Macron nuoc Phap gia nua da hoa tre.  Voi Trump nuoc My tre trung da hoa gia.  Macron co duong loi gan voi ba Merkel cua Duc hon la Brexit cua Anh va ‘nuoc My tren het’ cua tong thong Trump.  Voi duong loi cua Trump va Brexit cua Anh Quoc, Phap va Duc phai dam nhan trong trach lon doi voi Lien Au va NATO.  Putin vui mung vi NATO va Lien Au khong con chat che nhu xua.  Nhung Putin co ve trong ne Macron.  Nga tim cach hack tin tuc cua Macron de giup cho Le Pen thang cu ma Macron van thang cu ve vang.  Viec Putin tham vieng Paris vai ngay sau khi Macron nham chuc cho thay phan nao su trong ne cua ong ta truoc vi tong thong tre tuoi nhat cua nuoc Phap.  Ong Trump chi tiep ngoai truong Nga. Lavrov, va dai su Nga o Hoa Ky, Kislyak, o White House.  Bao chi Hoa Ky khong duoc tham du de lay tin va chup hinh.  Nhung phong vien va nhiep anh gia Nga duoc vao.  Nhin anh chup nguoi ta nhan xet hai ong Lavrov va Kislyak cua Nga tuoi cuoi hon ho trong khi nu cuoi cua vi tong thong Hoa Ky khong duoc tu nhien ma co ve heo hac, guong gap.  Ba Merkel la mot doi thu nang can doi voi Putin.  Ba tung la cong dan Dong Duc truoc kia, co nhieu kinh nghiem ve Cong San tren que huong ba duoi gong kem cua Lien So.  Ba da  bien nuoc Duc thong nhat thanh mot mot cuong quoc kinh te o Au Chau khien vai tro cua Anh va Phap bi lu mo.  Ca Phap va Duc deu co nhieu kinh nghiem ve Nga mac du Duc va Phap qua nho doi voi Nga ve dien tich lan dan so.  Nuoc Phap ha khong la xu cua anh sang doi voi Nga vao the ky XVII, XVIII?  Napoleon I ha khong dua quan tan cong Nga nam 1812? Giua Phap va Nga van co truyen thong lien minh vao thap nien 1890, thap nien 1930 (hiep uoc ho tuong; Phap ung ho cho Lien So gia nhap Hoi Quoc Lien) va 1940 (sau khi Phap duoc giai phong trong de nhi the chien) thoi So Viet.  Duc khong xa la gi voi nuoc Nga.  Nu hoang Catherine II vao the ky XVIII cua Nga la nguoi Duc.   Hoang hau Alexandra Feodorovna (Alix of Hess) cua Nga hoang Nicholas II la nguoi Duc.  Ba co lien he huyet thong voi nu hoang Victoria o Anh ma ba goi bang ba.  Hoang hau Alexandra   co anh huong lon o Nga duoi trieu Nicholas II.  Gia dinh hoang gia bi Lenin ra linh tan sat nam 1918.  Duc ha khong tan cong Lien So trong de nhi the chien?  Phap va Duc hien nay no luc giu Au Chau thanh trung tam chanh tri, kinh te va van hoa giua Nga- Hoa Ky va Trung Quoc khi tong thong Trump cua Hoa Ky bat dau ca ne Putin lan Xi Jinping (Tap Can Binh) cua Trung Quoc da ue oai trong viec duy tri quan he mat thiet va huu hao voi cac cuu dong minh.  Nu thu tuong Duc Merkel thang than keu goi  cac nuoc Au Chau dung y lai vao Hoa Ky ma phai tu luc canh sinh.  Tai hoi nghi G-7 tong thong Trump cua Hoa Ky co ve co don vi khong co mau so chung voi 06 cuong quoc con lai.  Co phai chang nguoi ta trong doi Duc ,chong do voi Nga o Au Chau va Nhat chong do Trung Quoc, Bac Han o A Chau?  Ca hai nuoc nay co dien tich va dan so khiem ton nhung co nen kinh te phon vinh.  Chien tranh se chon lap su phon vinh kinh te cua cac nuoc Au Chau do Duc, Phap dai dien va A Chau do Nhat va Trung Quoc dai dien?  Neu the gioi thoat duoc dai chien thi, voi duong loi co cum cua tong thong Trump, vai tro cua Hoa Ky tro nen lu mo truoc Nga va Trung Quoc.  Kinh te Trung Quoc vuon len manh me o Au Chau nhat la o Duc, thao tung o Dong Nam A vi Hoa Ky rut ra khoi TPP va sap nhay mua sat nach Hoa Ky (Canada, Me Tay Co) neu Hoa Ky rut khoi NAFTA.  Co cum khong co nghia la vi dai tro lai ma bi bao vay ngay tren luc dia My Chau.  Chang sach tu co lap cua ong Trump giup ich cho su banh truong cua Nga rat nhieu.  Chu nghia tu co lap cua ong Trump va Brexit cua Anh dong nghia voi su tan ra cua NATO theo thoi gian.  ISIS va Nga ben nao nguy hiem hon doi voi Hoa Ky?  Tong thong Trump cho la ISIS. Nghi si Mc Cain cho la Nga.  Di xa hon neu Nga manh hon Hoa Ky thi anh huong cua Hoa Ky mat vao tay Nga va Trung Quoc.  Ngay ca Alaska se co van de voi Nga chang?